19/05/2016 00:00
Xem với cỡ chữ

Ngân hàng Phát triển Việt Nam 10 NĂM - MỘT CHẶNG ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN

Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) được thành lập ngày 19/5/2006 và chính thức đi vào hoạt động từ 01/7/2006. Trong chặng đường mười năm xây dựng và trưởng thành, VDB đã từng bước vượt qua những khó khăn, thách thức, thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao với vai trò là công cụ của Chính phủ trong việc thực hiện chính sách tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu của Nhà nước.

VDB đã tích cực thực hiện các giải pháp của Chính phủ trong việc tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, góp phần vào chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế, phát triển kinh tế - xã hội đất nước.
Kết quả thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu
Với chức năng nhiệm vụ là huy động, tiếp nhận và quản lý một số nguồn vốn trong và ngoài nước để thực hiện chính sách TDĐT và TDXK của Nhà nước, trong 10 năm qua, VDB đã huy động hơn 490 nghìn tỷ đồng và 470 triệu USD nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế. Nguồn vốn do VDB huy động đã đảm bảo tốc độ tăng trưởng tổng dư nợ bình quân giai đoạn 2006-2016 trên 12%/năm, đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư của doanh nghiệp cho các dự án phát triển, góp phần đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển kinh tế. VDB cũng thực hiện tốt một số nhiệm vụ được Chính phủ giao như: quản lý cấp phát, thanh toán các dự án thành phần thuộc Dự án Thủy điện Sơn La, cho vay và đầu tư xây dựng Đường ô tô cao tốc Hà Nội-Hải Phòng, bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn của NHTM …
Cho vay tín dụng đầu tư: hiện VDB đang quản lý cho vay 1.331 dự án với số vốn theo HĐTD gần 216 nghìn tỷ đồng. Dư nợ vốn tín dụng đầu tư trong nước hiện gấp hơn 2,7 lần so với thời điểm VDB bắt đầu đi vào hoạt động (01/07/2006). Trong tổng số các dự án VDB quản lý, có 90 dự án nhóm A với dư nợ gần 54 nghìn tỷ đồng, chiếm khoảng 47% tổng dư nợ. Hiện có 86 dự án nhóm A, trọng điểm đã hoàn thành đưa vào sử dụng, phát huy hiệu quả đầu tư, tập trung chủ yếu ở các dự án nguồn điện, lưới điện, xi măng, phân bón, dự án thuộc lĩnh vực an sinh xã hội. Cơ cấu cho vay chuyển dịch mạnh theo hướng tăng cường tài trợ các dự án lớn, giảm dự án Nhóm C, tăng dần dự án Nhóm A, B. Một số chương trình kinh tế của Chính phủ được VDB thực hiện tương đối thành công như: Chương trình kiên cố hóa kênh mương; Chương trình tôn nền vượt lũ và hạ tầng cụm tuyến dân cư vùng Đồng bằng Sông Cửu Long; Chương trình trồng 5 triệu ha rừng; Chương trình cơ khí trọng điểm; chương trình xã hội hóa y tế, giáo dục...
Quản lý vốn nước ngoài cho vay lại và các Quỹ quay vòng: VDB đang quản lý 460 dự án với tổng số vốn theo hợp đồng tín dụng tương đương hơn 13,24 tỷ USD, gấp 2 lần so với thời điểm đi vào hoạt động. Tổng số vốn ODA đã giải ngân trong 10 năm qua đạt hơn 140 nghìn tỷ đồng. Dư nợ vốn nước ngoài cho vay lại gần 147 nghìn tỷ đồng. Các dự án được thực hiện trên 43 tỉnh, thành phố trên cả nước... Trong giai đoạn này, kế thừa từ Quỹ HTPT VDB đang tiếp tục quản lý các Quỹ quay vòng: Quỹ Đầu tư ngành giống; Quỹ Phà; Chương trình phát triển khu vực tư nhân từ nguồn vốn do Chính phủ Đan Mạch ủy thác; Dự án cấp nước Phần Lan; Quỹ quay vòng cấp nước đô thị; Chương trình phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ; Chương trình cấp nước đồng bằng sông Cửu Long; Chương trình sử dụng hiệu quả, tiết kiệm năng lượng và phát triển năng lượng tái tạo; Hạn mức tín dụng giảm thiểu tác động đến môi trường do thay đổi khí hậu...
Tín dụng xuất khẩu: VDB đã giải ngân khoảng 142 nghìn tỷ đồng, phục vụ xuất khẩu hàng hóa Việt Nam ra thị trường quốc tế. Dư nợ bình quân giai đoạn 2006-2016 đạt hơn 11 nghìn tỷ đồng. VDB đã thực hiện cho vay đối với hầu hết các mặt hàng thuộc đối tượng khuyến khích xuất khẩu. Doanh số cho vay xuất khẩu tập trung vào cho vay lĩnh vực nông, lâm, thủy sản. Hoạt động cho vay TDXK cũng chuyển dịch theo cơ cấu ngành theo hướng tăng tỷ trọng mặt hàng công nghiệp. Riêng đối với mặt hàng thủy sản, VDB đã cho vay gần 75 nghìn tỷ đồng để đẩy mạnh xuất khẩu mặt hàng chủ lực của Đồng bằng Sông Cửu Long ra nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Đến nay, VDB đã thực hiện cho vay xuất khẩu sang hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ, từ các thị trường khó tính như Hoa Kỳ, Nhật Bản, các nước EU… và các thị trường mới như Trung Đông, châu Phi. Các mặt hàng xuất khẩu sang thị trường này chủ yếu là thủy hải sản, thủ công mỹ nghệ, cà phê, hạt tiêu, hạt điều…
Các hình thức hỗ trợ gián tiếp là Hỗ trợ sau đầu tư, bảo lãnh cũng góp phần quan trọng đẩy mạnh huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển, gia tăng tín dụng của các NHTM và TCTD, tăng tổng dư  nợ toàn nền kinh tế:
+ Giai đoạn 2006-2016, VDB đã ký hợp đồng hỗ trợ sau đầu tư đối với 476 dự án với số vốn hỗ trợ là gần 1.600 tỷ đồng, nâng tổng số dự án được hỗ trợ theo hình thức này từ năm 2000 đến nay lên 2.925 dự án với tổng số vốn hỗ trợ theo hợp đồng cho cả dự án là gần 3.600 tỷ đồng.
+ Thực hiện bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn tại các NHTM, giai đoạn 2006-2016, VDB đã chấp thuận bảo lãnh cho 1.951 lượt doanh nghiệp vay vốn đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh với giá trị vốn chấp thuận bảo lãnh hơn 15 nghìn tỷ đồng, đã phát hành 1.536 chứng thư bảo lãnh với giá trị vốn vay gần 10.700 tỷ đồng; góp phần huy động được gần 32.000 tỷ đồng cho phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh.
Lĩnh vực đầu tư chủ yếu
Thông qua các nghiệp vụ của VDB, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước đã góp phần thực hiện các chương trình/dự án nhằm tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, năng lực sản xuất của nền kinh tế, phát triển nông nghiệp nông thôn, bảo đảm an sinh xã hội của đất nước.
Nguồn vốn đầu tư phát triển nhằm tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật, năng lực sản xuất của nền kinh tế, bao gồm: Các dự án đầu tư về ngành điện: 395 dự án sản xuất và phân phối điện với số vốn vay theo HĐTD hơn 200 nghìn tỷ đồng; Lĩnh vực sản xuất xi măng: 31 dự án với số vốn vay theo HĐTD hơn 18 nghìn tỷ đồng; Đầu tư cơ sở đóng mới, sửa chữa tàu biển: 120 dự án với số vốn vay theo HĐTD gần 17 nghìn tỷ đồng; Các dự án đầu tư phát triển ngành hóa chất: 10 dự án với số vốn vay theo HĐTD gần 13 nghìn tỷ đồng; Công nghiệp chế biến: hơn 230 dự án chế  biến nông sản và thủy sản… trong đó nổi bật là các dự án Thủy điện Sơn La, thủy điện Lai Châu, vệ tinh Vinasat, phân bón DAP Hải Phòng, Đạm Ninh Bình, Đạm Hà Bắc, Apatit Lào Cai, Đạm Cà Mau, Điện gió Bạc Liêu…
Nguồn vốn đầu tư phát triển nhằm đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn với 642 dự án với số vốn vay theo HĐTD gần 53 nghìn tỷ đồng. Chủ yếu đầu tư vào lĩnh vực: trồng rừng nguyên liệu và trồng cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản và chế biến các sản phẩm nông nghiệp, sản phẩm cây công nghiệp, lâm sản, thuỷ hải sản và thực phẩm; chế biến thức ăn gia súc và thức ăn nuôi tôm; sản xuất và chế biến muối công nghiệp và muối ăn; đầu tư thiết bị phục vụ nông nghiệp, cơ khí nông nghiệp...
Nguồn vốn đầu tư phát triển thực hiện các dự án an sinh xã hội (trường học, bệnh viện, xử lý rác thải, cấp nước sạch, nhà ở xã hội…): cho vay 307 dự án với số vốn vay theo HĐTD hơn 50 nghìn tỷ đồng. Các dự án thuộc lĩnh vực này đã góp phần tích cực tăng trưởng kinh tế, cải thiện sức khỏe của nhân dân và môi trường sống.
Trong giai đoạn 2006-2016, VDB cũng quản lý cho vay có hiệu quả các  nguồn vốn theo chương  trình kiên cố hóa kênh mương, Giao thông nông thôn, tôn nền vượt lũ, Di dân tái định cư Thủy điện Sơn La, Quản lý vốn ủy thác từ các Quỹ Đầu tư phát triển của các địa phương; huy động ủy thác cho các địa phương… các hoạt động này đã có ý nghĩa quan trọng hỗ trợ các địa phương có nguồn vốn ĐTPT theo chiến lược, kế hoạch phát triển của mình; qua đó tăng cường uy tín, vai trò của VDB đối với các địa phương, tạo điều kiện hơn cho sự phát triển của hệ thống VDB nói chung và các Chi nhánh VDB nói riêng trên địa bàn.
Hợp tác quốc tế:
Nhận thức sâu sắc vai trò quan trọng của hội nhập quốc tế, VDB luôn nhất quán thực hiện đường lối đối ngoại rộng mở, thu hút hiệu quả các nguồn lực bên ngoài phục vụ mục tiêu phát triển bền vững của hệ thống. VDB đã xác lập cơ sở hợp tác với 15 tổ chức quốc tế có uy tín (KEXIM, DBJ, JBIC, CDB, USEXIM, Vneshconombank...). Thông qua việc ký kết các Biên bản ghi nhớ (MOU) hợp tác đôi bên cùng có lợi, tạo điều kiện thuận lợi, thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực mà các bên cùng quan tâm như chia sẻ kinh nghiệm quản lý ngân hàng, tài trợ dự án cơ sở hạ tầng, năng lượng, giáo dục, y tế...
Một trong những nhiệm vụ hợp tác quốc tế là kêu gọi và tìm kiếm sự hợp tác về nguồn vốn cho các dự án phát triển nhằm tận dụng sự ủng hộ của các tổ chức phát triển của Chính phủ các nước. Các dự án trọng điểm đã triển khai thành công nhờ một phần nguồn tài chính huy động từ các tổ chức tài chính quốc tế như: “Dự án đường ô tô cao tốc Hà Nội - Hải Phòng” (Ngân hàng Tái thiết Đức (KfW) tài trợ 100 triệu USD, Ngân hàng Xuất nhập khẩu Hàn Quốc tài trợ 200 triệu USD, Ngân hàng Citibank và SMBC đồng tài trợ 270 triệu USD); “Dự án điện gió đồng bằng sông Cửu Long” với cam kết hạn mức tín dụng 1 tỷ USD của Ngân hàng Xuất nhập khẩu Hoa Kỳ (US EXIM); “Chương trình đầu tư cấp nước đô thị Đồng bằng sông Cửu Long” với Hiệp định tín dụng AFD trị giá 30 triệu EUR; Hiệp định tín dụng trị giá 4.682 triệu JPY với JICA đầu tư các dự án sử dụng hiệu quả, tiết kiệm năng lượng và phát triển năng lượng tái tạo; “Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ” do KfW tài trợ trị giá 10 triệu EUR; “Quỹ quay vòng cấp nước đô thị” vốn vay Ngân hàng thế giới (WB) trị giá 10 triệu USD; Hiệp định vay Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) trị giá 100 triệu USD cho các dự án tái tạo năng lượng; Hiệp định vay ADB cho các trường cao đẳng nghề trị giá 20 triệu USD; Hiệp định vay 100 triệu USD của Ngân hàng Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC) phát triển công nghiệp phụ trợ... VDB còn tranh thủ sự ủng hộ của các đối tác quốc tế, tiến hành hợp tác trên phương diện hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo nguồn nhân lực của VDB nhằm tiếp thu các kinh nghiệm quản lý từ các chuyên gia nước ngoài.
VDB đã gắn kết các mục tiêu, nhiệm vụ của VDB để tổ chức các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng đội ngũ cán bộ viên chức (CBVC), chăm lo đời sống và thực hiện chính sách xã hội và là chỗ dựa tin cậy, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động. Với tinh thần tương thân tương ái, giúp đỡ những hoàn cảnh khó khăn, VDB tích cực tham gia công tác xã hội, từ thiện. CBVC tham gia đóng góp xây dựng các quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”, “Xóa đói giảm nghèo”, các quỹ nhân đạo, từ thiện với giá trị nhiều tỷ đồng. Trong đó điển hình là việc VDB đã ủng hộ cho các đối tượng chính sách xã hội như trẻ em mồ côi, đồng bào nghèo thuộc 20 xã nghèo và các gia đình chính sách với số tiền là gần 20 tỷ đồng; Xây dựng 60 ngôi nhà tình nghĩa trao tặng cho các đối tượng chính sách có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; Ủng hộ Nhật Bản do bị động đất, sóng thần, ủng hộ đồng bào và chiến sỹ Trường Sa số tiền gần 3 tỷ đồng; thực hiện Nghị quyết 30a của Chính phủ về việc chung tay giúp đỡ 3 huyện nghèo của tỉnh Lào Cai là Simacai, Mường Khương, Bắc Hà với tổng số tiền ủng hộ của CBVC trong toàn hệ thống các doanh nghiệp gần 152 tỷ đồng… Số tiền tuy không nhiều nhưng là tấm lòng của tập thể CBVC VDB nhằm làm vơi bớt đi những khó khăn của những mảnh đời không may mắn.
Mục tiêu phát triển
Trong thời gian tới, VDB tiếp tục đổi mới căn bản về tư duy quản trị hoạt động trên cơ sở kết quả và bài học kinh nghiệm giai đoạn 2006-2016. Đồng thời, kiên định mục tiêu tái cơ cấu hoạt động theo Quyết định số 369/QĐ-TTg ngày 18/2/2013 của Thủ tướng Chính phủ, nhằm thực hiện các nội dung về đảm bảo chất lượng và tăng trưởng tín dụng, an toàn tài chính, hoàn thiện mô hình quản trị ngân hàng và công tác tổ chức bộ máy, cán bộ phù hợp.
Theo đó, VDB phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tín dụng bình quân khoảng 10-15%/năm, quy mô tài sản đến năm 2020 khoảng 500 nghìn tỷ đồng trên cơ sở tập trung vốn tín dụng chính sách của Nhà nước, vốn ODA cho vay lại vào các đối tượng đã quy định. Tỷ lệ an toàn vốn năm 2020 đạt không dưới 10%. Vốn chủ sở hữu đạt 30 nghìn tỷ đồng và tăng thêm nếu có điều kiện; nợ xấu đạt ở mức 4%-5% vào năm 2020. Tiếp tục định hướng đa dạng hóa các nghiệp vụ, dịch vụ ngân hàng; ban hành các hướng dẫn để VDB thực hiện cơ chế cho vay thoả thuận tự bù đắp chi phí đối với các đối tượng đang có quan hệ vay vốn tại Ngân hàng theo định hướng tại Quyết định 369/QĐ-TTg.
Tiêu chuẩn hóa quy trình nghiệp vụ; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, hiện đại hóa công nghệ ngân hàng theo tiêu chí an toàn tài chính như các NHTM trên cơ sở hoàn thiện mô hình quản trị và tổ chức bộ máy phù hợp với tính chất, đặc thù của ngân hàng chính sách; chuẩn hóa và chuyên nghiệp hóa đội ngũ cán bộ, phát huy hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống kiểm tra, kiểm soát và phân tích, cảnh báo rủi ro, tăng cường kiểm tra giám sát của cơ quan quản lý nhà nước.
Tiếp tục đẩy mạnh hợp tác quốc tế, củng cố vị thế, vai trò là định chế tài chính Nhà nước thực hiện đồng thời các chức năng: ngân hàng phát triển, ngân hàng xuất nhập khẩu, bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ, đại lý ủy thác của Chính phủ trong quản lý cho vay lại vốn ODA; tiếp tục mục tiêu đa dạng nguốn vốn và tăng quy mô vốn huy động từ nước ngoài; đẩy mạnh hoạt động tín dụng xuất khẩu nhằm vào những ngành hàng quan trọng đem lại giá trị xuất khẩu cao; tìm kiếm và tận dụng tối đa các nguồn lực từ bên ngoài (bao gồm tài chính và hỗ trợ kỹ thuật) để hỗ trợ thực hiện nhiệm vụ tái cơ cấu hoạt động của VDB theo các giai đoạn; nâng cao hiệu quả quản lý tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu; xây dựng mô hình quản trị, tổ chức bộ máy phù hợp; hiện đại hóa công nghệ ngân hàng.
Thực hiện các nội dung phát triển nguồn nhân lực theo định hướng đã được xác định tại Quyết định 369/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ của VDB trong giai đoạn tới, với mục đích: làm nổi bật vai trò của một ngân hàng chính sách của Chính phủ trong hỗ trợ phát triển nền kinh tế đất nước, vừa đảm bảo tôn trọng, vận dụng những quy luật khách quan của cơ chế thị trường trong tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, vừa thực hiện tối ưu vai trò hướng dẫn, quản lý của Nhà nước trong phát triển kinh tế./.

PV
 

Tìm theo ngày :

Khách online:8308
Lượt truy cập: 6259874