26/05/2016 00:00
Xem với cỡ chữ

Ngân hàng Phát triển Việt Nam MƯỜI NĂM CHẶNG ĐƯỜNG ĐẦU TIÊN

Bài viết của Nguyên Chủ tịch HĐQL Nguyễn Đức Kháng trên Tạp chí HTPT số 115 (Tháng 4+5/2016) 

Trước yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, Quỹ Hỗ trợ Phát triển (HTPT) với chức năng là một tổ chức tài chính phải đổi mới tổ chức hoạt động cho phù hợp với yêu cầu hội nhập kinh tế và thông lệ quốc tế.
Ngày 19/5/2006, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định thành lập Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) trên cơ sở tổ chức lại hoạt động của Quỹ HTPT để thực hiện chính sách tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước. Tiếp theo đó, Điều lệ tổ chức hoạt động, các Quyết định về nhân sự chủ chốt và các cơ chế hoạt động của VDB cũng được Thủ tướng Chính phủ ban hành.
 Trên cơ sở các văn bản pháp lý nói trên, VDB chính thức bước vào hoạt động với mô hình là một tổ chức tín dụng chính sách đầu tư phát triển và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước. Chặng đường 10 năm qua của VDB đánh dấu bước khởi đầu cho một mô hình tổ chức mới hoạt động trên cơ sở kế thừa nền tảng của mô hình tổ chức Quỹ HTPT trước đây. Với 10 năm khởi nghiệp đã qua, VDB cũng đã bước đầu khẳng định được vai trò vị thế của mình đồng thời bộc lộ những nhược điểm về mô hình tổ chức, cơ chế hoạt động và năng lực đội ngũ CBVC trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ.
Tổng hợp đánh giá 10 năm hoạt động của VDB sẽ được phản ánh đầy đủ, toàn diện trong báo cáo tổng kết 10 năm sắp tới; tuy nhiên, vài số liệu tổng quát dưới đây cho thấy kết quả hoạt động của VDB đến năm 2015.
Đối với tín dụng đầu tư: Hiện VDB đã và đang quản lý và cho vay hơn 1.300 dự án vay vốn tín dụng đầu tư trong đó có 660 dự án mới ký Hợp đồng tín dụng và cho vay trong giai đoạn 2006-2015 với doanh số giải ngân đạt hơn 216 nghìn tỷ đồng… nguồn huy động vốn của VDB đã đáp ứng đầy đủ, kịp thời yêu cầu giải ngân cho các chương trình mục tiêu, kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao và yêu cầu tăng trưởng tín dụng, bảo đảm an toàn thanh khoản. Trong đó có nhiều dự án trọng điểm quốc gia về giao thông (đường ô tô cao tốc Hà Nội - Hải Phòng), điện gió, cho vay và cấp phát ủy thác dự án Nhà máy lọc dầu Dung Quất, các dự án Nhà máy thủy điện Sơn La, Lai Châu, các dự án nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân, Duyên Hải...; thực hiện bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn NHTM. Ngoài ra, VDB còn đẩy mạnh huy động, thu hút các nguồn vốn cho đầu tư phát triển từ các tổ chức tài chính quốc tế.
Với vai trò là công cụ của Chính phủ trong thực hiện các chính sách tín dụng đầu tư của Nhà nước, VDB đã tập trung cho vay các dự án tại các địa bàn khó khăn, đặc biệt khó khăn ở các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc, vùng Tây Nguyên, Tây Nam bộ góp phần tác động tích cực đến sự phát triển, chuyển dịch cơ cấu kinh tế các vùng, miền và cả nước. Tiến hành cho vay các dự án thuộc lĩnh vực nông nghiệp như trồng rừng nguyên liệu, trồng các cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả, chăn nuôi, nuôi trổng thủy sản và chế biến các sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản, các sản phẩm cơ khí phục vụ nông nghiệp. Nhiều dự án đã hoàn thành phát huy hiệu quả; nâng cao đời sống nhân dân, tạo việc làm cho hàng vạn lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo, ổn định chính trị xã hội các địa phương vùng biên giới.
Trong điều kiện khó khăn về vốn ngân sách nhà nước, trong thời gian qua, VDB đã huy động vốn từ thị trường để góp phần thực hiện chương trình kiên cố hóa kênh mương, giao thông nông thôn, tôn nền vượt lũ theo đúng chủ trương của Chính phủ với lãi suất cho vay 0%. Chương trình đã tác động tích cực đến sự phát triển của kinh tế nông nghiệp và đời sống nông dân trên khắp các tỉnh thành cả nước.
Thực hiện mục tiêu bảo đảm an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững, VDB luôn chú trọng dành vốn cho các dự án thuộc lĩnh vực an sinh xã hội như: đầu tư xây dựng các công trình cung cấp nước sạch, các nhà máy xử lý nước thải, rác thải, dự án nhà ở cho công nhân lao động tại các khu công nghiệp thuê và người có thu nhập thấp; dự án thuộc chương trình 18 bệnh viện công lập, xã hội hóa y tế giáo dục. Các dự án này thường hiệu quả kinh tế tài chính thấp, thời gian thu hồi vốn dài nhưng góp phần giải quyết các vấn đề mang tính xã hội, bảo vệ môi trường, cải thiện đời sống, sức khỏe nhân dân.
Đối với tín dụng xuất khẩu: VDB đã dành nguồn vốn tương đối lớn (khoảng 143 nghìn tỷ đồng giai đoạn 2006-2015), để các doanh nghiệp thực hiện các hợp đồng xuất khẩu (bằng 0,4% kim ngạch xuất khẩu), góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng cần khuyến khích theo chủ trương của Chính phủ, dư nợ bình quân hàng năm VDB cho vay hỗ trợ xuất khẩu là 10 nghìn tỷ đồng.
VDB cũng đã và đang thực hiện quản lý, cho vay lại vốn nước ngoài khá hiệu quả, giai đoạn 2006-2015, VDB quản lý 460 dự án, với tổng số vốn đã giải ngân đạt hơn 138.000 tỷ đồng. Dư nợ vốn nước ngoài cho vay lại đến nay đạt 146.573 tỷ đồng.
Thực hiện nhiệm vụ của Chính phủ về triển khai các giải pháp chống suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế, VDB đã triển khai cho vay để trả lương, thanh toán bảo hiểm xã hội và trợ cấp thôi việc, cấp bù lãi suất cho các khoản vay tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu trong gói kích cầu của Chính phủ góp phần thực hiện mục tiêu chống suy giảm kinh tế, nhằm duy trì tăng trưởng kinh tế của đất nước.
Triển khai thực hiện NQ số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ, VDB đã cam kết hỗ trợ đầu tư phát triển bền vững thông qua hoạt động phối hợp kêu gọi đầu tư và hỗ trợ đầu tư tín dụng hàng nghìn tỷ đồng cho các dự án lớn trên địa bàn tỉnh và 3 huyện nghèo của tỉnh Lào Cai (Bắc Hà, Mường Khương và Si Ma Cai), vừa hỗ trợ giảm nghèo nhanh thông qua hoạt động đóng góp, ủng hộ, giúp đỡ bằng tiền và vật chất cho 03 huyện nghèo. VDB đã xây dựng Nhà tình nghĩa cho các bà mẹ Việt Nam anh hùng, phụng dưỡng và chăm sóc thương binh, gia đình liệt sỹ, giúp đỡ các hộ nghèo và học sinh các xã nghèo, ủng hộ người tàn tật, xây dựng trường học tại các xã vùng cao, vùng sâu, vùng xa; tổ chức quyên góp ủng hộ đồng bào bị thiên tai, bão lụt trên cả nước.
Những thành quả đạt được trong chặng đường 10 năm qua của VDB đã được Đảng và Nhà nước đánh giá, ghi nhận với những phần thưởng cao quý: Huân chương Độc lập, Huân chương Lao động các loại, Cờ thi đua của Chính phủ, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ cho tập thể và cá nhân trong những năm qua.
Tuy nhiên, nhìn lại chặng đường đã qua, VDB cũng đã bộc lộ những khiếm khuyết, bất cập về mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động, giải pháp tổ chức và điều hành cùng với những rủi ro đạo đức, nghề nghiệp... trong một bộ phận nhỏ CBVC. Với mô hình tổ chức là một Ngân hàng, nhưng thực tế, hoạt động cơ bản vẫn là một tổ chức tài chính, VDB chưa được vận hành như một Ngân hàng thực thụ, thể hiện rõ nét là các cơ chế về huy động vốn, về lãi suất (kể cả lãi suất huy động, lãi suất cho vay), trích lập dự phòng rủi ro và xử lý rủi ro, cơ chế tài chính hoàn toàn trong tình trạng bị động... có những giai đoạn bị sức ép về tăng trưởng tín dụng quá nóng (có thời gian tới 40% - 50%) không tương xứng với khả năng tài chính và năng lực, kinh nghiệm quản trị hoạt động, tổ chức điều hành dẫn đến hiệu quả, chất lượng tín dụng của một số dự án, khoản vay thấp dưới chuẩn làm cho nợ quá hạn, nợ xấu tăng cao trong vài năm gần đây; một số cán bộ viên chức bị xử lý pháp luật.
Mặc dù vậy, chúng ta không nên quá bi quan. Bởi cùng song hành với chúng ta các ngân hàng thương mại cũng đã trải qua cơn bĩ cực này do tác động mạnh mẽ của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, suy giảm kinh tế trong nước cộng với những non yếu trong quản trị hoạt động. Các NHTM cũng đã dần thoát khỏi tình trạng khó khăn bởi hàng loạt các giải pháp mạnh trong tái cơ cấu hoạt động, tái cơ cấu tổ chức. Vừa qua, VDB cũng đã được Thủ tướng Chính phủ ban hành Điều lệ tổ chức hoạt động mới nhằm nâng cao quản trị hoạt động cùng với việc triển khai có kết quả bước đầu Đề án chiến lược hoạt động đem đến những tín hiệu khởi sắc đáng mừng. Đó là việc sắp xếp tổ chức lại mô hình tổ chức hoạt động, thúc đẩy huy động vốn, giải ngân các dự án mới, cơ cấu lại nợ theo hướng tích cực. Những mục tiêu phát triển đã đặt ra cho VDB giai đoạn 2015-2020 phù hợp với tình hình chung của nền kinh tế, hoạt động của hệ thống ngân hàng, năng lực của VDB. Đó là chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng bình quân khoảng 10%/năm, theo đó quy mô tài sản đến năm 2020 đạt khoảng 500 nghìn tỷ đồng, giai đoạn sau 2020 tốc độ tăng trưởng tín dụng được xác định phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, xác định cơ cấu giữa vốn chủ sở hữu và vốn huy động của toàn ngành, có lộ trình tăng vốn chủ sở hữu nhằm đạt tỷ lệ vốn chủ sở hữu so với tổng dư nợ cho vay tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu của VDB phù hợp với từng giai đoạn phát triển; nâng cao chất lượng tín dụng, đặc biệt là công tác thẩm định, giải ngân, quản lý thu hồi nợ, xây dựng cơ chế phân loại nợ xấu phù hợp với tính chất hoạt động của VDB, xây dựng cơ chế trích lập dự phòng rủi ro và các biện pháp xử lý nợ xấu, tích cực thu hồi nợ và xử lý rủi ro nhằm mục tiêu giảm tỷ lệ nợ xấu còn khoảng 4-5% vào năm 2020; tỷ lệ nợ xấu trong giai đoạn 2020-2030 ở mức dưới 3%; tiêu chuẩn hóa quy trình nghiệp vụ, đa dạng hóa các dịch vụ ngân hàng phục vụ tốt hơn chính sách tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu của Nhà nước bao gồm cả cho vay thỏa thuận đối với các đối tượng này trong những điều kiện nhất định nhằm nâng cao chất lượng hoạt động, từng bước giảm cấp bù của NSNN tiến tới tự chủ tài chính; nâng cao trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức của đội ngũ CBVC toàn ngành, không để xảy ra tình trạng rủi ro đạo đức nghề nghiệp trong CBVC; nâng cao hiệu quả kiểm tra giám sát của các cơ quan quản lý Nhà nước và kiểm soát nội bộ ngành.
Chúng ta hy vọng rằng những mục tiêu đề ra nói trên sẽ trở thành hiện thực với sự chuyển đổi hoàn thiện mô hình tổ chức, cơ chế hoạt động đang được VDB tích cực tổ chức triển khai thực hiện.
10 năm - một chặng đường gian nan thử thách của một mô hình tổ chức mới bắt đầu đi vào vận hành. Những bước đi chập chững đầu tiên đặt dấu ấn cho sự trưởng thành hướng tới tương lai tốt đẹp.
Có thể nói 10 năm qua là chặng đường khởi nghiệp cho một tổ chức mới, vì thế bên cạnh những thành công bước đầu không tránh khỏi những đổ vỡ không chỉ bởi những nguyên nhân khách quan mà có cả nguyên nhân chủ quan do những non kém, thiếu kinh nghiệp trong quản trị hoạt động gây nên. Đó là bài học quý giá cho mỗi chúng ta để khắc phục những khiếm khuyết nhằm tiếp tục hoàn chính mô hình phát triển trong giai đoạn mới tiếp theo.
Mỗi CBVC VDB có đầy đủ cơ sở, niềm tin để vượt qua khó khăn thử thách trước mắt, tiếp tục vươn lên phấn đấu vì mục tiêu sớm ổn định và phát triển bền vững, khẳng định vai trò, vị thế của VDB trong hệ thống ngân hàng và sự phát triển kinh tế của đất nước trong giai đoạn mới./.

Tìm theo ngày :

Khách online:8212
Lượt truy cập: 6259750