16/10/2017 10:48
Xem với cỡ chữ

Thực trạng, tiềm năng, cơ chế chính sách, thuận lợi và hạn chế khi thực hiện điện mặt trời

Điện mặt trời là lĩnh vực đầu tư mới tại Việt Nam cũng như lĩnh vực mà VDB chưa từng thực hiện cho vay nên thông tin về lĩnh vực này chưa nhiều, do đó, qua bài viết này sẽ giúp Chi nhánh nắm bắt thông tin cũng như định hướng trong quá trình tiếp nhận, thẩm định cho vay các dự án liên quan đến điện năng lượng mặt trời.

I. Thực trạng lĩnh vực năng lượng ở Việt Nam:
Nền kinh tế tăng trưởng nhanh của Việt Nam là động lực chính làm tăng nhanh chóng nhu cầu điện trên cả nước trong những năm qua. Sản lượng điện hàng năm của Việt Nam đã tăng hơn mười lần từ 8,6 TWh năm 1990 lên 164 TWh năm 2015. Tỷ lệ tăng hàng năm trong giai đoạn này là 12 – 15%, gần như cao gấp đôi tốc độ tăng trưởng GDP.
Tổng công suất phát điện lắp đặt của Việt Nam năm 2015 là 39 GW. Thủy điện, than và khí tự nhiên vẫn là nguồn năng lượng chính cho sản xuất điện.

Theo Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia (QHĐ VII điều chỉnh, tháng 3/2016), đến năm 2020 Việt Nam phải đạt sản lượng điện 265 tỷ KWh, đến năm 2030 phải có 570 tỷ KWh điện. Tuy nhiên, hiện chúng ta mới có trên 170 tỷ kWh điện thương phẩm trong khi các nguồn năng lượng hóa thạch như than, khí đốt...ngày càng cạn kiệt, hầu hết các thủy điện có tiềm năng cũng đã triển khai. Để cân đối mục tiêu trên, Việt Nam đặt mục tiêu tăng đáng kể tỷ lệ năng lượng tái tạo sản xuất năng lượng trong thời gian tới nhằm bổ sung sản lượng điện thiếu khoảng 100 tỷ kWh vào năm 2020 và thiếu khoảng 300 tỷ kWh vào năm 2030 (Số liệu về tổng tỷ lệ phần trăm cho năm 2020 và 2030 bao gồm cả thủy điện nhỏ).

II. Tiềm năng về năng lượng mặt trời:
Việt Nam được đánh giá là một quốc gia có tiềm năng lớn về năng lượng mặt trời với khoảng 843 triệu MWh/năm theo ước tính của Phòng thí nghiệm Năng lượng tái tạo quốc gia Hoa Kỳ (NREL). Các báo cáo khảo sát thực hiện bức xạ tại Việt Nam ở các vùng miền Trung và miền Nam của đất nước cho kết quả cường độ bức xạ mặt trời trung bình khoảng 4,9 kWh/m2/ngày. Trong khi đó cường độ bức xạ mặt trời lại thấp hơn ở các vùng phía Bắc, ước tính khoảng 3,7 kWh/m2do điều kiện thời tiết với trời nhiều mây và mưa phùn vào mùa đông và mùa xuân. Cụ thể:

Cũng theo một nghiên cứu của Bộ Công thương với sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế (CIEMAT, CENER, IDEA)     bức xạ mặt trời bình quân hàng năm của Việt Nam khoảng 4 – 5 kWh/m2/ngày, tổng số giờ chiếu sáng khoảng 1.600 – 2.700 giờ/năm, đặc biệt các vùng miền Nam và miền Trung Việt Nam có tiềm năng lớn nhất. Theo đó, Việt Nam được đánh giá là nước có tài nguyên mặt trời lớn tương đương với các nước như Italy, Tây Ban Nha, Thái Lan… (cụ thể như bản đồ atlas sau).

III. Về cơ chế chính sách thực hiện:
Khung pháp lý hiện tại liên quan đến điện mặt trời bao gồm:
- Chiến lược phát triển năng lượng tái tạo của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến 2050 được ban hành tại Quyết định số 2068/QĐ-TTG ngày 25/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ;
- Tổng sơ đồ phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011 – 2020 có xét đến năm 2030 được điều chỉnh, sửa đổi tại Quyết định số 428/QĐ-TTg ngày 185/3/2016 của Thủ tướng Chính phủ;
- Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg 11/4/2017 cơ chế khuyến khích phát triển các dự án điện mặt trời tại Việt Nam;
- Thông tư hướng dẫn số 16/2017/TT-BTC ngày 12/9/2017 quy định về phát triển dự án và hợp đồng mua bán điện mẫu áp dụng cho các dự án điện mặt trời;
Theo các chuyên gia,và các nhà quản lý, trong trường hợp Quy hoạch phát triển điện mặt trời Tỉnh và quy hoạch phát triển điện lực Tỉnh được phê duyệt kịp thời, đi đôi với việc Hợp đồng mua bán điện mẫu đã được ban hành kèm theo Thông tư số 16/2017/TT-BTC ngày 12/9/2017 thì khung pháp lý cho việc triển khai dự án điện mặt trời là tương đối đầy đủ.
óm tắt một số cơ chế chính sách ưu đãi đối với dự án điện mặt trời:
+ Giá bán điện  (áp dụng cho phần nhà máy điện mặt trời nối lưới có ngày vận hành thương mại trước ngày 30/6/2019): 9,35 Uscents/kWh trong 20 năm kể từ ngày vận hành thương mại. Giá bán điện được điều chỉnh theo biến động của tỷ giá đồng/USD
+ Về việc mua điện thương phẩm: EVN có trách nhiệm mua toàn bộ điện năng được sản xuất từ các dự án điện mặt trời; ưu tiên khai thác toàn bộ công suất, điện năng phát của các dự án điện mặt trời đưa vào vận hành thương mại.
+ Về vốn đầu tư: Dự án điện mặt trời thuộc đối tượng vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước theo Nghị định số 32/2017/NĐ-CP ngày 31/3/2017 của Chính phủ về tín dụng đầu tư của Nhà nước.
+ Về Thuế nhập khẩu: Dự án điện mặt trời được miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu để tạo tài sản cố định cho dự án;
+ Về thuế thu nhập doanh nghiệp: miễn thuế TNDN trong 04 năm đầu, hưởng mức thuế suất 5% từ năm thứ 5-13, 10% từ năm thứ 14-15 và các năm tiếp theo là 20%.
+ Về đất đai: Các dự án điện mặt trời, công trình đường dây và trạm biến áp để đấu nối với lưới điện được miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, tiền thuê mặt nước theo quy định của pháp luật hiện hành áp dụng cho dự án thuộc lĩnh vực ưu đãi đầu tư.
IV. Thuận lợi, hạn chế:
1. Thuận lợi trong việc triển khai dự án điện mặt trời:
Khung pháp lý tương đối đầy đủ.
Chính sách ưu đãi tương đối nhiều (bao gôm từ vốn đầu tư, giá bán, thuế, đất đai…).
Do là lĩnh vực mới nên còn nhiều địa điểm tiềm năng cho các Nhà đầu tư phát triển.
Suất đầu tư dự án điện mặt trời có xu hướng giảm nên đem lại hiệu quả cao hơn cho dự án, tạo điều kiện thu hút thêm các nguồn vốn đầu tư.
2. Hạn chế, khó khăn:
Về thủ tục đầu tư:
- Quy hoạch điện mặt trời mới được phê duyệt tại một số tỉnh, nhiều tỉnh có tiềm năng triển khai nhưng chưa được phê duyệt quy hoạch; quy hoạch phát triển điện lực tỉnh ở một số tỉnh cũng chưa thực sự đồng bộ dẫn đến khi triển khai chủ đầu tư phải thực hiện thêm thủ tục bổ sung quy hoạch điện mặt trời hoặc bổ sung quy hoạch phát triển điện lực tỉnh.
- Thủ tục đầu tư dự án nói chung và dự án năng lượng mặt trời nói riêng tương đối nhiều, liên quan đến nhiều cơ quan, tổ chức Nhà nước nên chủ đầu tư dự án mất nhiều thời gian để thực hiện hoàn thiện (quy hoạch, chủ trương đầu tư, cấp đất, phê duyệt thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật, phê duyệt ĐTM, PCCC, giấy phép hoạt động điện lực…)
Về chính sách ưu đãi:
- Giá bán mặt trời hiện chỉ được áp dụng cố định trong 20 năm đối với các dự án có khả năng phát điện thương mại trước ngày 30/6/2019 cũng gây khó khăn cho một số Nhà đầu tư hiện tại mới ở trong giai đoạn tiếp cận chưa thực hiện triển khai các thủ tục chuẩn bị đầu tư (không nhận định được xu hướng giá bán, không quản lý được hiệu quả cũng như khó tiếp cận với nguồn vốn vay…). Tuy nhiên, tại Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Công thương nghiên cứu đề xuất cơ chế khuyến khích phát triển các dự án điện mặt trời áp dụng cho giai đoạn sau ngày 30 tháng 6 năm 2019.
- Do là lĩnh vực mới, số dự án hoàn thành phát điện thương mại ít, các Ngân hàng chưa có điều kiện để kiểm soát các rủi ro đối với loại hình dự án này nên chưa mạnh dạn tài trợ dẫn đến việc tiếp cận nguồn vốn tương đối khó khăn.
- Số lượng chủ đầu tư thực sự có năng lực tài chính tương đối ít, khả năng bố trí đủ vốn tự có tham gia đầu tư theo tiến độ hạn chế nên khó trong việc được duyệt vay tại các tổ chức tín dụng.
Về năng lực kinh nghiệm:
- Tư vấn trong nước có năng lực kinh nghiệm lập và quản lý dự án ít điều này ảnh hưởng đến việc lựa chọn tư vấn lập, quản lý dự án của chủ đầu tư.
- Số lượng chủ đầu tư quan tâm đến lĩnh vực đầu tư điện mặt trời tương đối nhiều nhưng phần lớn chưa có kinh nghiệm trong việc đầu tư, quản lý vận hành dự án dẫn đến không hiểu và nắm rõ về dự án (kỹ thuật, tài chính), chưa chủ động kiểm soát được các công việc phát sinh, ảnh hưởng tương đối nhiều đến tiến độ đầu tư cũng như vận hành dự án đảm bảo đúng công suất thiết kế.
V. Khả năng thực hiện tài trợ tại VDB:
Dự án điện mặt trời phù hợp với mục tiêu, định hướng hoạt động của VDB theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Quyết định 369/QĐ-TTg ngày 28/2/2013 về việc phê duyệt Chiến lược phát triển Ngân hàng phát triển Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030: “tập trung vốn tín dụng đầu tư vào bảo vệ môi trường và công nghệ xanh; năng lượng sạch và năng lượng tái tạo”. Tại Thông báo kết luận của Chủ tịch Hội đồng quản trị tại Hội nghị tổng kết năm 2016 và triển khai nhiệm vụ năm 2017 số 17/TB-HĐQT ngày 24/1/2017, dự án điện mặt trời thuộc đối tượng ưu tiên xem xét cho vay trong giai đoạn hiện tại.
Hiện tại trong hệ thống, một số Chi nhánh VDB đang tiếp cận, xem xét một số dự án như một số cụm dự án điện mặt trời của Công ty cổ phần điện Gia Lai (Dự án điện mặt trời Krong Pa, dự án điện mặt trời Ninh Thuận, dự án điện mặt trời Bình Thuận...); dự án điện mặt trời Cu Jut của Công ty cổ phần thủy điện Miền Trung; Nhà máy điện mặt trời Phú Lạc của Công ty cổ phần Phong điện Thuận Bình...
Với tiềm năng, hiệu quả kinh tế dự án điện mặt trời, trong trường hợp Chủ đầu tư có năng lực kinh nghiệm, khả năng tài chính và dự án có khả năng phát điện thương mại trước 30/6/2019 thì việc VDB xem xét tài trợ là hoàn toàn có khả năng góp phần thúc đẩy tăng trưởng tín dụng cũng như góp phần vào việc đảm bảo an ninh năng lượng, thực hiện chương trình chống biến đổi khi hậu của Chính phủ.

Ban Thẩm định VDB

Tìm theo ngày :

Khách online:15792
Lượt truy cập: 6269800