20/12/2017 15:34
Xem với cỡ chữ

Quốc hội ban hành Luật Quản lý nợ công

Ngày 23/11/2017, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Luật số 20/2017/QH14 Luật Quản lý nợ công (QLNC).

Theo đó, Nợ công quy định tại Luật trên bao gồm nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương.
Về nguyên tắc quản lý nợ công: Nhà nước quản lý thống nhất về nợ công, bảo đảm việc thực thi trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến quản lý nợ công; Kiểm soát chặt chẽ các chỉ tiêu an toàn nợ công, bảo đảm nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững và ổn định kinh tế vĩ mô; Việc đề xuất, thẩm định, phê duyệt chủ trương vay, đàm phán, ký kết thỏa thuận vay và phát hành công cụ nợ, phân bổ và sử dụng vốn vay phải đúng mục đích, hiệu quả. Vay cho bù đắp bội chi ngân sách nhà nước chỉ được sử dụng cho đầu tư phát triển, không sử dụng cho chi thường xuyên.
Về hình thức vay nợ: Chính phủ vay nợ theo 2 hình thức: Phát hành công cụ nợ (trái phiếu, tín phiếu, công trái) và Ký kết thỏa thuận vay.
Luật QLNC cũng quy định chi tiết về trả nợ của Chính phủ. Chính phủ có trách nhiệm bố trí ngân sách trung ương để trả nợ của Chính phủ. Mức vay mới để trả nợ gốc nằm trong tổng mức vay của ngân sách nhà nước hàng năm được Quốc hội quyết định; UBND cấp tỉnh có trách nhiệm bố trí ngân sách địa phương để trả nợ vốn vay lại ODA, vay ưu đãi nước ngoài đầy đủ, đúng hạn; Bộ Tài chính và cơ quan được Bộ Tài chính ủy quyền cho vay lại có trách nhiệm thu hồi toàn bộ nợ gốc, lãi, phí và chi phí khác có liên quan của các chương trình, dự án vay lại vốn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài, nộp vào Quỹ tích lũy trả nợ để đảm bảo nguồn trả nợ nước ngoài.
Về đối tượng được vay lại và cơ quan cho vay lại, Luật QLNC quy định: Đối tượng đươc vay lại vốn vay ODA, vay ưu đãi nươc ngoài bao gồm: UBND cấp tỉnh; Đơn vị sự nghiệp công lập; Doanh nghiệp.
Cơ quan cho vay lại bao gồm Bộ Tài chính; ngân hàng chính sách của nhà nước, tổ chức tín dụng được Bộ tài chính ủy quyền thục hiện cho vay lại.
Nguyên tắc cho vay lại: Chính phủ cho vay lại từ vốn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài; không phát hành trái phiếu Chính phủ trên thị trường vốn quốc tế, vay thương mại nước ngoài để cho vay lại;
Chính phủ cho vay lại một phần hoặc toàn bộ vốn vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài cho các dối tượng theo quy định (UBND cấp tỉnh, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp);
Mức vay, thời hạn cho vay lại và thời gian ân hạn tối đa bằng mức vay, thời hạn vay và thời gian ân hạn quy định tại thỏa thuận vay nước ngoài của Chính phủ; đồng tiền cho vay lại, đồng tiền thu nợ là đồng tiền Chính phủ vay nước ngoài. Trường hợp trả nợ bằng đồng Việt Nam, áp dụng tỷ giá bán ra tại thời điểm trả nợ do Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam công bố để thu nợ;
Lãi suất cho vay lại bao gồm lãi suất Chính phủ vay nước ngoài, các khoản phí theo quy định tại thỏa thuận vay nước ngoài, phí quản lý cho vay lại và dự phòng rủi ro cho vay lại;
Bên vay lại phải có phương án tài chính khả thi được cấp có thẩm quyền thẩm định theo quy định của Luật này.
Phí quản lý cho vay lại được quy định: Phí quản lý cho vay lại bằng 0,25%/năm tính trên dư nợ vay lại do bên vay lại nộp; Phí quản lý cho vay lại được sử dụng để chi phục vụ công tác cho vay, quản lý, thu hồi vốn cho vay lạicủa cơ quan cho vay lại
Dự phòng rủi ro cho vay lại được quy định: Mức dự phòng rủi ro cho vay lại được tính trên cơ sở đánh giá năng lực tài chính của bên vay lại, mức độ rủi ro của từng chương trình, dự án nhưng không quá 1,5%/năm trên dư nợ vay lại do bên vay lại nộp; Trường hợp cơ quan cho vay lại không chịu rủi ro tín dụng, dự phòng rủi ro cho vay lại được nộp vào Quỹ tích lũy trả nợ. Trường hợp cơ quan cho vay lại chịu toàn bộ rủi ro tín dung, dự phòng rủi ro cho vay lại được nộp cho cơ quan cho vay lại; Dự phòng rủi ro cho vay lại được dùng để tạo nguồn trả nợ vay nước ngoài trong trường hợp bên vay lại không thực hiện đầy đủ, đúng hạn nghĩa vụ trả nợ.
Đối tượng được bảo lãnh Chính phủ theo quy định của Luật QLNC gồm: Doanh nghiệp có dự án đầu tư thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của Quốc hội, Chính phủ, quyết định đầu tư của Thủ tướng Chính phủ theo quy định của Luật Đầu tư và Luật Đầu tư công; Ngân hàng chính sách của Nhà nước thục hiện chương trình tín dụng chính sách của Nhà nước.
Bên cạnh đó, Luật còn quy định về mức bảo lãnh Chính phủ đối với dự án đầu tư. Mức bảo lãnh Chính phủ đối với giá trị gốc của khoản vay, khoản phát hành trái phiếu cho dự án đầu tư không vượt quá 70% tổng mức đầu tư đã được phê duyệt của dự án.
Luật QLNC cũng quy định về bảo đảm khả năng trả nợ công. Theo đó, việc huy động vốn vay phải bảo đảm các chỉ tiêu an toàn nợ công và chủ động bố trí nguồn trả nợ đầy đủ, đúng hạn; Các khoản vay mới chỉ được thực hiện sau khi đã đánh giá đầy đủ tác động đến quy mô nợ công, trong giới hạn các chỉ tiêu an toàn nợ công và khả năng trả nợ trong trung hạn.
Luật có hiêu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2018.

HN

Tìm theo ngày :

Khách online:10616
Lượt truy cập: 7893989