25/03/2013 00:00
Xem với cỡ chữ

TÌNH HUỐNG PHÁP LÝ SỐ 8 (Đăng số 76 - tháng 11/2012)

Câu 1: Chi nhánh B cấp Chứng thư bảo lãnh với số tiền 4,2 tỷ đồng cho khoản vay của một khách hàng tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) theo Hợp đồng tín dụng (do BIDV lập) cho vay 4,2 tỷ đồng nhưng không vượt quá 70,4% tổng vốn đầu tư cố định được duyệt. Khi dự án hoàn thành, vốn cố định đầu tư được duyệt là 5,454 tỷ đồng. Như vậy, nếu chiếu theo tỷ lệ khống chế trên, thì số tiền cho vay tối đa theo hợp đồng chỉ là 3,840 tỷ đồng, nhưng thực tế BIDV đã giải ngân 4,2 tỷ đồng. Đến hạn, khách hàng không trả được nợ vay, BIDV yêu cầu Chi nhánh B thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Theo anh/chị, ai có lỗi trong trường hợp này và Chi nhánh B có phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh không? Thực hiện bao nhiêu? Tại sao?
Câu 2:
Trong trường hợp lập biên bản ghi nhận hành vi chủ đầu tư chuyển dịch hoặc tự ý cho thuê tài sản bảo đảm, chưa được sự đồng ý của bên nhận bảo đảm mà người vi phạm không chịu ký vào biên bản. Gặp tình huống này anh/chị cần xử lý thế nào? Biên bản không có chữ ký của bên vi phạm (do không chịu ký) có giá trị pháp lý để chứng minh trong giải quyết vụ việc của cơ quan có thẩm quyền hay không?
 
GIẢI ĐÁP TÌNH HUỐNG PHÁP LÝ SỐ 8
Câu 1: 
Trước hết, cần khẳng định trong trường hợp này, cả Ngân hàng BIDV và Chi nhánh B đều có lỗi. Đối với BIDV, việc lập Hợp đồng tín dụng với nội dung “cho vay 4,2 tỷ đồng nhưng không vượt quá 70,4% tổng vốn đầu tư cố định được duyệt” là chưa phù hợp (thông thường phải nêu tỷ lệ trước, số tuyệt đối sau mới tránh được những rắc rối có thể phát sinh). Mặt khác, theo nội dung nêu trên thì điều kiện tiên quyết trước khi giải ngân là phải biết được tổng vốn đầu tư cố định được duyệt là bao nhiêu để có cơ sở xác định số tiền cho vay phù hợp. Tuy nhiên, trên thực tế BIDV đã giải ngân số tiền 4,2 tỷ đồng trong khi chưa biết cụ thể về tổng vốn đầu tư được duyệt, dẫn đến việc số tiền đã giải ngân vượt qúa tỷ lệ quy định trong Hợp đồng tín dụng (>70,4%). Còn với Chi nhánh B, do không lưu ý tỷ lệ nêu trên nên đã cấp Chứng thư bảo lãnh với số tiền 4,2 tỷ đồng, lớn hớn 70,4% tổng vốn đầu tư cố định được duyệt cũng là điều thiếu sót.
Về việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, theo quy định tại Quyết định số 14/2009/QĐ-TTg ngày 21/01/2009 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế Bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn của Ngân hàng thương mại thì bên bảo lãnh phải: “Thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo cam kết với Bên nhận bảo lãnh và Bên được bảo lãnh” (điểm đ, khoản 1 Điều 14). Trường hợp này, do đã phát hành Chứng thư bảo lãnh và đến hạn khách hàng không trả được nợ vay cho BIDV nên Chi nhánh B phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Tuy nhiên, về số tiền bảo lãnh, do cả BIDV và Chi nhánh B đều có lỗi nên các bên cần có thỏa thuận cụ thể để xác định số tiền mà mỗi bên phải chịu. Về nguyên tắc, Chứng thư bảo lãnh là văn bản có giá trị pháp lý đòi tiền nhưng không phải trong mọi trường hợp, bên phát hành đều phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về số tiền đã ghi trên Chứng thư mà còn phải xem xét các yếu tố, điều kiện liên quan khác. Ở đây, BIDV đã có lỗi trong việc giải ngân vượt quá tỷ lệ quy định trong Hợp đồng tín dụng. Vì vậy, khi phát sinh yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, Chi nhánh B có thể chỉ thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh với số tiền tối đa là 3,840 tỷ đồng (tương ứng với 70,4% tổng vốn đầu tư thực tế được duyệt của dự án). Tuy nhiên, để tránh kiện tụng mất thời gian, Chi nhánh B cần có văn bản trao đổi với Ngân hàng BIDV về lý do từ chối số tiền chênh lệch trên một cách thấu đáo, tạo sự đồng thuận giữa các bên liên quan.
 
Câu 2:
Theo quy định tại Điều 58 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 thì: “Trường hợp người vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm không có mặt tại nơi vi phạm hoặc cố tình trốn tránh hoặc vì lý do khách quan mà không ký vào biên bản thì biên bản phải có chữ ký của đại diện chính quyền cơ sở nơi xảy ra vi phạm hoặc của hai người chứng kiến”. Vì vậy, trong trường hợp lập biên bản ghi nhận hành vi chủ đầu tư chuyển dịch hoặc tự ý cho thuê tài sản bảo đảm, chưa được sự đồng ý của bên nhận bảo đảm mà người vi phạm không chịu ký vào biên bản thì anh/chị cần mời đại diện chính quyền cơ sở nơi xảy ra vi phạm (có thể là đại diện Công an, UBND địa phương) hoặc 02 người làm chứng để chứng kiến sự việc và ký vào biên bản. Ngoài ra, theo quy định tại Nghị định 61/2009/NĐ-CP ngày 24/07/2009 của Chính phủ về chế định Thừa phát lại (thực hiện thí điểm tại Tp.HCM) thì Thừa phát lại có quyền lập vi bằng theo yêu cầu của tổ chức, cá nhân. Vì vậy, nếu sự việc xảy ra trên địa bàn Tp.HCM, anh/chị có thể mời Thừa phát lại để lập vi bằng về hành vi chuyển dịch, cho thuê tài sản trái pháp luật của chủ đầu tư, làm cơ sở cho việc giải quyết tranh chấp sau này. 
Đối với biên bản không có chữ ký của bên vi phạm (do không chịu ký) thì theo quy định tại Điều 58 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 nêu trên, biên bản vẫn có giá trị pháp lý để chứng minh trong giải quyết vụ việc của cơ quan có thẩm quyền nếu có chữ ký của đại diện chính quyền cơ sở nơi xảy ra vi phạm hoặc chữ ký của hai người chứng kiến.
 
Tìm theo ngày :

Khách online:23580
Lượt truy cập: 11285197