26/03/2013 00:00
Xem với cỡ chữ

TÌNH HUỐNG PHÁP LÝ SỐ 9 (Đăng số 77 - tháng 12/2012)

Câu 1: Tại phiên tòa sơ thẩm, TAND tỉnh N xử bị cáo T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” thông qua việc lập Hợp đồng khống vay vốn tại Chi nhánh Ngân hàng tỉnh N. Về trách nhiệm dân sự, Bản án tuyên bị cáo T phải trả số tiền nợ gốc còn lại khoảng gần 30 tỷ đồng, tiền lãi chỉ trả đến thời điểm bị cáo bị bắt tạm giam (từ khi tạm giam đến khi xử hơn 1 năm) khoảng 24 tỷ đồng, mặc dù theo đơn yêu cầu của nguyên đơn dân sự (Ngân hàng N), bị cáo phải trả đủ số tiền gốc và lãi cho đến thời điểm thi hành án theo Hợp đồng tín dụng (vì Hợp đồng chưa thanh lý). Theo anh/chị, trường hợp này Chi nhánh N có nên làm đơn kháng cáo phúc thẩm không? (Lưu ý: Bị cáo T bị tuyên 12 năm tù và tài sản không còn). Nếu không kháng cáo thì Chi nhánh N có bị quy kết trách nhiệm gì không? Tại sao?
Câu 2:
Chủ đầu tư Doanh nghiệp M thế chấp một tài sản để vay vốn sản xuất kinh doanh, do không trả được nợ quá hạn nên có văn bản gửi Chi nhánh Ngân hàng Q đề nghị bán tài sản thế chấp để trả nợ, nhưng Ngân hàng Q không đồng ý vì cho rằng bán lúc này không được giá, không đủ trả nợ, lãi vay và sau khi bán không còn tài sản đảm bảo cho dư nợ còn lại.
Theo anh/chị, lý do Chi nhánh Q đưa ra như vậy thỏa đáng chưa? Có đúng quy định của Ngân hàng Phát triển Việt Nam và pháp luật không?
Nếu được giao giải quyết trường hợp này, anh/chị cần đề xuất những gì để bảo vệ quyền lợi cho Ngân hàng Phát triển và của chủ đầu tư?
 
GIẢI ĐÁP TÌNH HUỐNG PHÁP LÝ SỐ 9
Câu 1: 
Theo quy định tại khoản 5 Điều 474 Bộ luật dân sự năm 2005 thì: “Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ”. Mặt khác, tại khoản 3 mục I Thông tư liên tịch số 01-TT/LT ngày 19/06/1997 của TANDTC-VKSNDTC-BTP-BTC hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản cũng đã nêu: Đối với các khoản tiền vay ở Ngân hàng, do giá trị của các khoản tiền đó đã được bảo đảm thông qua các mức lãi suất do Ngân hàng Nhà nước quy định, cho nên khi xét xử, Tòa án quyết định buộc bên có nghĩa vụ về tài sản phải thanh toán số tiền thực tế đã vay cùng với khoản tiền lãi, kể từ ngày giao dịch cho đến khi thi hành án xong, theo mức lãi suất tương ứng do Ngân hàng Nhà nước quy định. 
Trường hợp này, khi TAND tỉnh N xét xử sơ thẩm thì bị cáo T vẫn chưa trả nợ gốc, lãi cho Chi nhánh Ngân hàng tỉnh N, vì vậy theo quy định trên thì Tòa án phải căn cứ vào yêu cầu của nguyên đơn để tuyên buộc bị cáo T trả gốc và lãi vay cho Ngân hàng cho đến thời điểm thi hành án xong. Việc TAND tỉnh N chỉ buộc bị cáo T trả tiền lãi đến thời điểm bị cáo bị bắt tạm giam là không phù hợp.
Mặc dù bị cáo T bị tuyên 12 năm tù và tài sản không còn thì cần cân nhắc có nên thực hiện quyền kháng cáo hay không, được gì, mất gì trong việc này. Kháng cáo là Quyền chứ không phải trách nhiệm, nên pháp luật không bắt buộc, quy kết trách nhiệm cho cá nhân, tổ chức có quyền này
Câu 2:
Khoản 1 Điều 5 Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm quy định một trong những trường hợp xử lý tài sản bảo đảm là: “Đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”. Khoản 1 Điều 45 Quyết định 42/QĐ-HĐQL ngày 17/09/2007 ban hành Quy chế bảo đảm tiền vay của Ngân hàng Phát triển (NHPT) cũng quy định: NHPT được xử lý tài sản bảo đảm khi “khách hàng có nợ quá hạn liên tiếp trong thời hạn 06 tháng đối với tín dụng đầu tư, trong thời hạn 60 ngày đối với tín dụng xuất khẩu”. Như vậy, về nguyên tắc, nếu khoản nợ quá hạn của Doanh nghiệp M đáp ứng điều kiện này và Chi nhánh Ngân hàng Q không có căn cứ rõ ràng nào để chứng minh việc chưa bán tài sản sẽ có lợi hơn cho cả 2 bên thì Chi nhánh phải tiến hành xử lý tài sản bảo đảm theo quy định. Việc Chi nhánh không đồng ý bán tài sản thế chấp theo đề nghị của Doanh nghiệp M với các lý do “bán lúc này không được giá, không đủ trả nợ, lãi vay và sau khi bán không còn tài sản đảm bảo cho dư nợ còn lại” là chưa thỏa đáng và không phù hợp quy định của pháp luật cũng như quy định của NHPT.
Nếu được giao giải quyết trường hợp này, anh/chị cần để xuất theo một trong  hai hướng:
Thứ nhất, trong trường hợp có đầy đủ các căn cứ để xác định việc bán tài sản lúc này là bất lợi (chẳng hạn như tài sản đang lên giá và chắc chắn sẽ tăng giá nhiều trong thời gian tới) thì Chi nhánh cần làm việc, giải thích cho Doanh nghiệp rõ và tạo sự đồng thuận trong việc chờ thời điểm thích hợp để bán tài sản.
Thứ hai, nếu không có căn cứ để chứng minh việc sau này bán tài sản sẽ được giá hơn thì Chi nhánh cần có thỏa thuận cụ thể với Doanh nghiệp M để lựa chọn phương thức xử lý tài sản phù hợp nhằm sớm thu hồi nợ và tránh phát sinh thêm lãi quá hạn. Bên cạnh đó, Chi nhánh cũng phải yêu cầu Doanh nghiệp M có cam kết về việc sẽ tiếp tục huy động mọi nguồn lực để thực hiện nghĩa vụ trả nợ và dùng tài sản khác (nếu có) để bảo đảm cho dư nợ còn lại trong trường hợp tài sản đã xử lý mà không đủ để trả nợ gốc, lãi vay.
Tìm theo ngày :

Khách online:6942
Lượt truy cập: 8699020