15/06/2013 08:10
Xem với cỡ chữ

TÌNH HUỐNG PHÁP LÝ SỐ 11 (Đăng Tạp chí số 79 - tháng 2/2013)

Công ty M vay vốn tại Ngân hàng Thương mại H được Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) bảo lãnh. Đến hạn trả, Công ty M không trả, Ngân hàng H kiện ra Tòa án tỉnh S, Tòa S mời VDB tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Bản án của tòa S tuyên xử: “Buộc Công ty M phải hoàn trả tiền gốc và lãi cho Ngân hàng H. Trong trường hợp Công ty M không thực hiện nghĩa vụ hoàn trả thì Ngân hàng H có quyền yêu cầu VDB trả nợ thay theo chứng thư bảo lãnh”.Sau một thời gian, không thấy Công ty M tự nguyện thi hành, Ngân hàng H có đơn yêu cầu thi hành án gửi Cơ quan Thi hành án (không gửi cho VDB) nhưng Cơ quan Thi hành án lại có văn bản thông báo cho VDB phải có nghĩa vụ trả nợ thay cho Công ty M đối với bên được thi hành án là Ngân hàng H. Nếu không trả sẽ cưỡng chế thi hành theo luật định.
Hỏi:1/ Cách xử lý của Cơ quan Thi hành án như vậy đúng hay sai? Tại sao?
Sau khi nhận thông báo trên, bên có nghĩa vụ trả nợ thay có văn bản đề nghị Tòa “giải thích bản án”. Theo anh chị, bên có nghĩa vụ có nên làm như vậy hay không? Tại sao?
2/ Nếu được giao bảo vệ quyền lợi cho VDB, anh/chị sẽ phải lập luận thế nào để vừa đảm bảo có căn cứ pháp lý, vừa thuyết phục được các bên liên quan cũng như các cơ quan tài phán./.
 
GIẢI ĐÁP TÌNH HUỐNG PHÁP LÝ SỐ 11
1. Theo nội dung bản án của TAND tỉnh S thì: “Buộc Công ty M phải hoàn trả tiền gốc và lãi cho Ngân hàng H. Trong trường hợp Công ty M không thực hiện nghĩa vụ hoàn trả thì Ngân hàng H có quyền yêu cầu NHPT trả nợ thay theo Chứng thư bảo lãnh”. Như vậy, bản án chỉ buộc Công ty M phải hoàn trả tiền gốc và lãi cho Ngân hàng H mà không tuyên rõ thời gian Công ty M phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ là khi nào. Về nguyên tắc, khi chưa xác định được thời điểm thực hiện nghĩa vụ của Công ty M, Cơ quan Thi hành án không thể buộc NHPT phải có nghĩa vụ trả nợ thay. Mặt khác, theo quy định tại Điều 19 Quyết định số 03/2011/QĐ-TTg ngày 10/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ (QĐ03) về ban hành Quy chế bảo lãnh cho doanh nghiệp vừa và nhỏ vay vốn tại Ngân hàng thương mại thì khi Doanh nghiệp không trả được nợ, Ngân hàng thương mại phải có văn bản yêu cầu cho NHPT để các bên phối hợp với nhau áp dụng các biện pháp thu hồi nợ và thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh theo cam kết. Ở trường hợp này, khi thấy Công ty M không tự nguyện thi hành án, Ngân hàng H có đơn yêu cầu gửi Cơ quan Thi hành án mà lại không gửi cho NHPT là chưa thực hiện đúng trình tự thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh theo quy định tại QĐ03 nêu trên. Vì vậy, việc Cơ quan Thi hành án có văn bản thông báo cho NHPT phải có nghĩa vụ trả nợ thay cho Công ty M, nếu không trả sẽ cưỡng chế thi hành theo luật định là không phù hợp.
* Về việc bên có nghĩa vụ trả nợ thay có văn bản đề nghị Tòa “giải thích bản án”: Theo quy định tại khoản 1 Điều 382 Bộ luật Tố tụng dân sự thì việc yêu cầu Tòa giải thích bản án là quyền của Cơ quan Thi hành án và các đương sự liên quan, không phải là nghĩa vụ bắt buộc. Do đó, nếu nhận thấy việc giải thích của Tòa có thể đem lại kết quả không như mong muốn thì NHPT không nên thực hiện quyền này. Khi Tòa có văn bản giải thích, rất có thể NHPT sẽ phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho Công ty M vào một thời điểm xác định nào đó, trong khi để thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, NHPT còn phải xem xét đến nhiều yếu tố liên quan khác như việc Ngân hàng H và Công ty M có thực hiện đúng quy định về bảo lãnh hay không, nghĩa vụ phát sinh có thuộc trường hợp từ chối bảo lãnh hay không...
2. Nếu được giao bảo vệ quyền lợi cho NHPT, chúng ta có thể lập luận như sau:
  Thứ nhất, do bản án của Tòa S không quy định thời gian cụ thể để Công ty M thực hiện nghĩa vụ hoàn trả tiền gốc và lãi cho Ngân hàng H nên về nguyên tắc, NHPT chưa có nghĩa vụ phải thực hiện ngay nghĩa vụ trả thay như thông báo của Cơ quan Thi hành án. Chỉ khi nào thời gian trả nợ của Công ty M được xác định rõ và hết thời gian này Công ty M không trả thì Ngân hàng H mới có quyền yêu cầu NHPT thực hiện nghĩa vụ trả thay.
Thứ hai, bản án của Tòa S chỉ tuyên: “Ngân hàng H có quyền yêu cầu NHPT trả nợ thay theo Chứng thư bảo lãnh”. Như vậy, quyền yêu cầu là của Ngân hàng H, còn việc có thực hiện theo yêu cầu này hay không thì NHPT phải xem xét đến các điều kiện khác theo quy định. Chẳng hạn, nếu Công ty M và Ngân hàng H thực hiện đúng các thỏa thuận trong Hợp đồng, Chứng thư bảo lãnh và nghĩa vụ được bảo lãnh không thuộc trường hợp từ chối bảo lãnh thì NHPT sẽ chấp nhận đề nghị bảo lãnh. Ngược lại, nếu Công ty M hoặc Ngân hàng H không đáp ứng điều kiện này (như Ngân hàng H giải ngân vốn vay cho Công ty M không đúng mục đích sử dụng vốn vay ghi trong Hợp đồng tín dụng; Công ty M sử dụng vốn không đúng mục đích và Ngân hàng H chưa thực hiện việc kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay đối với Công ty M…) thì NHPT được từ chối thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. 
Như vậy, bên bảo lãnh (NH PT) cần có văn bản gửi Cơ quan Thi hành án với lập luận như trên để vừa đảm bảo có căn cứ pháp lý, vừa thuyết phục được các bên liên quan cũng như các cơ quan tài phán./.
Tìm theo ngày :

Khách online:13906
Lượt truy cập: 9508832