29/11/2013 00:00
Xem với cỡ chữ

TÌNH HUỐNG PHÁP LÝ - SỐ 19 (Đăng Tạp chí HTPT số 88 - Tháng 11/2013)

Năm 2005, Chi nhánh Đ cho Công ty T vay vốn tín dụng xuất khẩu. Trong hồ sơ thế chấp, có Hợp đồng bảo lãnh của bên thứ 3 là ông M; tài sản bảo lãnh là 04 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCN QSDĐ) đứng tên ông M; giá trị bảo lãnh cho khoản vay 4 tỷ đồng, dư nợ hiện tại khoảng 8 tỷ đồng.
Đến nay, ông M có đơn yêu cầu Chi nhánh Đ trả lại các GCN QSDĐ đã được thế chấp nói trên vì cho rằng ông không ký vào bất kỳ giấy tờ nào liên quan Hợp đồng bảo lãnh, mà ai đó đã giả mạo chữ ký của ông.
1. Theo anh/chị, Chi nhánh Đ có phải trả lại GCN QSDĐ cho ông M trong trường hợp này hay không? Tại sao?. (Được biết, Chi nhánh nhận các GCN QSDĐ này từ tay ông T - Giám đốc Công ty T và là người đại diện theo pháp luật của Công ty lúc đó).
2. Nếu được giao tư vấn cho Chi nhánh Đ giải quyết trường hợp trên, ý kiến anh/chị thế nào để an toàn và hiệu quả nhất?  
 
Ý kiến luật sư
1. Trường hợp này, Chi nhánh Đ. không được phép trả lại GCN QSDĐ cho ông M. bởi các lý do sau:
Thứ nhất, Chi nhánh Đ không trực tiếp nhận các GCN QSDĐ từ tay ông M mà nhận từ Giám đốc Công ty T. Do đó, nếu Chi nhánh trả cho ông M mà Công ty T khiếu nại, hoặc Công ty trả hết nợ cho Chi nhánh và yêu cầu được nhận lại các giấy tờ này thì Chi nhánh không có cơ sở để giải quyết.
Thứ hai, theo đơn của ông M thì ông không ký vào bất kỳ giấy tờ nào liên quan đến Hợp đồng bảo lãnh, mà ai đó đã giả mạo chữ ký của ông. Như vậy, chứng tỏ ông M đã thừa nhận giữa ông và Chi nhánh Đ không có bất cứ quan hệ gì, do đó, việc ông yêu cầu Chi nhánh trả lại GCN QSDĐ là bất hợp lý. Nếu có đòi lại giấy tờ thì ông phải yêu cầu chính người đem GCN QSDĐ của mình đi thế chấp là ông T trả lại mới đúng.
Thứ ba, theo quy định của pháp luật về bảo đảm tiền vay và quy trình của NHPT, việc trả lại tài sản thế chấp chỉ được thực hiện sau khi Ngân hàng đã thu đủ nợ gốc và lãi phát sinh, hoặc bên thế chấp dùng tài sản khác có giá trị tương đương để thay thế. Đồng thời, theo phân cấp thẩm quyền của NHPT, Chi nhánh Đ cũng không có quyền trả lại tài sản thế chấp mà việc này thuộc quyền quyết định của Hội sở chính.
2. Để giải quyết thấu đáo trường hợp này, Chi nhánh nên phối hợp với ông M mời ông T đến làm việc nhằm làm rõ việc đưa GCN QSDĐ của ông M vào thế chấp trên cơ sở nào. Nếu ông M không hợp tác thì đây là một căn cứ thuyết phục cho việc không thể trả lại GCN QSDĐ vì biết đâu giữa ông M và ông T đã có sự thống nhất việc thế chấp bảo lãnh từ trước nhưng nay thấy sơ hở trong hồ sơ bảo lãnh nên “kiếm chuyện” đòi lại.
Trường hợp ông T đến làm việc, nếu ông thừa nhận việc đưa GCN QSDĐ của ông M vào thế chấp là trái ý chí của ông M, thì ông này phải chịu trách nhiệm đưa tài sản khác có giá trị tương đương vào thay thế hoặc trả nợ cho Chi nhánh Đ mới được trả lại giấy, nếu không, ông phải chịu trách nhiệm trực tiếp với ông M Những ai tiếp tay cho Công ty T và ông T lập hồ sơ bảo lãnh không đúng, sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Mặt khác, khi làm việc với ông M cần lưu ý chi tiết về thời hạn và đối tượng tranh chấp giữa các bên: Tại sao ông T sử dụng GCN QSDĐ của ông M từ năm 2005, đến nay đã hơn 8 năm, ông M mới yêu cầu trả lại; cũng không yêu cầu chính người đem giấy của mình đi thế chấp mà lại yêu cầu Chi nhánh Đ. Qua đó sẽ thấy được “thật, giả” của câu chuyện. Nếu đối phương có ý đồ “nắn gân” do nắm được điểm yếu của Chi nhánh thì cũng thấy “gân” Chi nhánh còn chắc, từ đó âm thầm rút lui, cùng nhau đàm phán tìm giải pháp tối ưu hơn để giải quyết sự việc./.
Tìm theo ngày :