31/12/2020 15:15
Xem với cỡ chữ

Vận dụng nguyên tắc Basel II trong quy trình cấp tín dụng tại NHPT

Đặng Thị Hương Thảo Chi nhánh NHPT Ninh Bình (bài đăng số Tháng 12/2020 Tạp chí HTPT)
Các chuẩn mực an toàn trong hoạt động ngân hàng của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng được hầu hết các quốc gia trên thế giới nghiên cứu áp dụng cho hệ thống của mình. Mục tiêu của chuẩn mực Basel II là nhằm nâng cao mức độ an toàn, hiệu quả, lành mạnh và năng lực cạnh tranh của hệ thống ngân hàng thông qua việc đảm bảo đáp ứng tỷ lệ an toàn vốn; nâng cao năng lực điều hành, quản trị rủi ro, tự đánh giá mức độ đủ vốn của hệ thống ngân hàng và tránh nhiệm thanh tra giám sát của cơ quan quản lý; tuân thủ kỷ luật thị trường tăng cường công khai minh bạch thông tin về tình hình hoạt động của ngân hàng. 
Các ngân hàng trên thế giới đã áp dụng Basel II từ năm 2006, hiện nay nhiều ngân hàng đã chuyển đổi áp dụng lên Basel III, theo báo cáo kết quả rà soát quá trình thực hiện Basel III của ủy ban Basel về giám sát các hoạt động ngân hàng (2018) công bố: cho đến ngày 30/6/2017, đã có 193 ngân hàng trên thế giới đã áp dụng các tiêu chuẩn Basel III. 
Tại Việt Nam, mặc dù Việt Nam chưa phải là thành viên của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng, do đó không bị ràng buộc bởi thời hạn phải tuân thủ các Hiệp ước Basel. Tuy nhiên, trong thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản luật và quy định theo định hướng Basel II. Tính đến nay đã có 20 ngân hàng được cấp chứng chỉ công nhận hoàn thành Basel II. Đồng thời đã có 04 ngân hàng hoàn thành xong cả 03 trụ cột theo tiêu chuẩn của Basel II.
Như vậy trên thế giới cũng như tại Việt Nam việc áp dụng các tiêu chuẩn của Basel là con đường tất yếu giúp ngân hàng an toàn và chất lượng hơn. Từ 17 nguyên tắc về quản lý rủi ro tín dụng của Basel II, NHPT có thể vận dụng vào quy trình cấp tín dụng theo hướng: phân tách chức năng quan hệ khách hàng - thẩm định, phê duyệt cấp tín dụng, theo đó thành lập các bộ phận chuyên môn khác nhau như bộ phận Quan hệ khách hàng ; bộ phận Quản lý rủi ro; bộ phận Tác nghiệp (gồm Quản lý tín dụng, kế toán, kho quỹ).
Trong đó:
+  Bộ phận Quan hệ khách hàng tập trung vào hoạt động tiếp thị khách hàng, khởi tạo tín dụng, lập đề xuất tín dụng.
+ Bộ phận Quản lý rủi ro thực hiện phân tích rà soát và đánh giá lại toàn bộ các rủi ro liên quan đến khoản tín dụng được đề cập tại đề xuất tín dụng, mang ý nghĩa phản biện đối với nội dung đề xuất tín dụng, hỗ trợ bổ sung thông tin cho cấp có thẩm quyền trong việc đi đến quyết định cấp tín dụng cho khách hàng.
+ Bộ phận Tác nghiệp thực hiện giám sát quá trình thực hiện các quyết định tín dụng của bộ phận Quan hệ khách hàng, lưu trữ  bản gốc các hồ sơ liên quan đến hoạt động cấp tín dụng khách hàng. 
Quy trình cấp tín dụng cần đảm bảo:
- Bộ máy độc lập, quản lý chung.
- Rạch ròi về thẩm quyền quyết định tín dụng.
- Xây dựng hạn mức tín dụng nội bộ và cho khách hàng.
- Lượng hóa rủi to tín dụng, chủ động đối phó.
Từ cơ cấu tổ chức đó quy trình cấp tín dụng thực hiện theo sơ đồ sau:
 
Sơ đồ quy trình thẩm định tại chi nhánh
 
Sơ đồ quy trình xét tín dụng tại Hội Sở Chính
Sơ đồ quy trình giải ngân tại chi nhánh
 
Khó khăn khi thực hiện quy trình thẩm định, phê duyệt tín dụng nói trên là môi trường thông tin, trong đó tính minh bạch, chính xác, rõ ràng của các thông tin và độ tin cậy của các cơ quan cung cấp tại Việt Nam còn rất nhiều hạn chế. Mặc dù Trung tâm thông tin tín dụng (CIC) của Ngân hàng Nhà nước ngày càng phát triển mạnh mẽ và đóng vai trò quan trọng trong cung cấp thông tin về khách hàng, thực hiện phân tích, xếp loại tín dụng doanh nghiệp, cung cấp các thông tin cảnh báo…, góp phần quan trọng cho sự phát triển của ngành ngân hàng Việt Nam vì mục tiêu an toàn, hiệu quả nhưng những đòi hỏi về thông tin của các ngân hàng vẫn chưa được đáp ứng một cách đáng tin cậy, nhanh chóng và kịp thời. Không phải tất cả Báo cáo tài chính của mọi loại hình doanh nghiệp buộc phải kiểm nên độ chính xác của các báo cáo chưa cao. NHPT đã đưa ra quy định các báo cáo tài chính hàng năm của khách hàng đang còn dư nợ hoặc có nhu cầu vay vốn tại NHPT phải thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính, tuy nhiên thực tế hiện nay tồn tại tình trạng đa phần doanh nghiệp “mua dấu” của kiểm toán, ngoại trừ các doanh nghiệp bắt buộc hoặc thực sự muốn kiểm toán chính xác tình trạng tài chính của đơn vị mình. Bởi vậy, việc tìm kiếm thông tin cực kỳ khó khăn và tình trạng thông tin bất cân xứng vẫn là một tồn tại chưa thể khắc phục được trên thị trường tài chính Việt Nam. Quy trình cấp tín dụng mới lại yêu cầu tách bạch chức năng bán hàng và chức năng thẩm định tín dụng, do đó, cán bộ thẩm định không tiếp xúc khách hàng (để đảm bảo tính khách quan) nên phải có đầy đủ các thông tin để có thể đưa ra các quyết định tín dụng đúng đắn và hợp lý.
Mặc dù có nhiều trở ngại trong xây dựng quy trình cấp tín dụng trên nhưng không thể phủ nhận được những ưu điểm của quy trình mới này mang lại trong quản trị rủi ro bởi đã thực hiện sự tách bạch giữa bộ phận tiếp thị và bộ phận thẩm định giúp cho các quyết định cho vay mang tính khách quan hơn, cũng như nhờ sự chuyên môn hóa sâu hơn theo chức năng mà việc thực hiện phân tích và phản biện tín dụng sâu sắc và chính xác hơn, giúp nhận dạng các rủi ro tiềm năng và có các biện pháp phòng ngừa thích hợp… Thêm vào đó, chính sự giám sát của bộ phận quản lý rủi ro đối với quan hệ khách hàng trong quá trình thực hiện các quyết định cấp tín dụng đã tạo nên cơ chế kiểm tra và giám sát liên tục, song song trong quá trình cho vay, phát hiện và giảm thiểu được những rủi ro sau khi cho vay, cũng như hạn chế được tình trạng sửa hồ sơ giải ngân, sự móc nối giữa khách hàng và cán bộ thực hiện.
Các giải pháp có thể áp dụng nhằm thực hiện, nâng cao hiệu quả của quy trình cấp tín dụng mới:
Một là, cần xây dựng hệ thống thông tin và phân tích thông tin toàn diện, cung ứng nguồn thông tin chính xác, đáng tin cậy cho các bộ phận chuyên môn có liên quan. 
Để thực hiện điều này một mặt tự xây dựng kho dữ liệu thông tin về phân tích ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế, đảm bảo các thông tin được lưu trữ đầy đủ, chính xác, cập nhật thường xuyên, đồng thời có hệ thống quản lý thông tin bài bản chuyên nghiệp. Mặt khác hợp tác toàn diện với các ngân hàng trên thị trường tài chính trong xây dựng và chia sẻ cơ sở dữ liệu thông tin về doanh nghiệp nhằm hoàn thiện hệ thống thông tin và giảm chi phí khai thác thông tin một cách hợp lý.
Hai là, xây dựng cơ chế trao đổi thông tin hiệu quả, đảm bảo sự liên lạc thường xuyên, liên tục và cập nhật kịp thời các thông tin trọng yếu giữa các bộ phận chức năng trong hoạt động cấp tín dụng.
Ba là, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Xây dựng chiến lược đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực trung và dài hạn có đủ khả năng thay đổi theo quy trình thẩm định mới của Basel II. Áp dụng chế độ ưu đãi cần thiết đối với những chuyên viên, cán bộ trong những bộ phận trọng yếu cũng cần được quan tâm.Tránh để xảy ra tình trạng “chảy máu chất xám” trong điều kiện NHPT hiện nay. Đồng thời nâng cao đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm của cán bộ.
Bốn là, hiện đại hóa công nghệ để vận hành quy trình cấp tín dụng hiệu quả.
Nền tảng công nghệ vững chắc, đây là cơ sở để có thể áp dụng quy trình cấp tín dụng mới theo Basel II. Hệ thống thông tin cần được xử lý tự động tập trung, có các phần mềm phân loại được các khoản vay nào trong hạn, quá hạn và có vấn đề và từ đó đưa ra các báo cáo cho các cấp độ quản trị khác nhau. Hệ thống thông tin tập trung sẽ giúp phân tích tốt hơn về khách hàng, và đưa ra các biện pháp quản trị rủi ro tương ứng. 
NHPT cần xây dựng cho mình một hệ thống công nghệ thông tin hiện đại, giúp cho các cán bộ có thể dễ dàng tra cứu tìm kiếm thông tin liên quan đến khách hàng. Ngoài ra, một hệ thống công nghệ thông tin hiện đại cũng giúp nâng cao chất lượng công tác phân tích, thẩm định khách hàng, giảm thiểu rủi ro do thiếu thông tin; Xây dựng một hệ thống quản lý dữ liệu tập trung toàn ngành làm cơ sở đánh giá, theo dõi liên tục và kịp thời danh mục tín dụng đầu tư.  
Năm là, trên cơ sở danh mục ưu đãi tín dụng Chính phủ ban hành từng thời kỳ, NHPT xác định “khẩu vị rủi ro” từ đó xây dựng các hạn mức tín dụng cho từng ngành, từng lĩnh vực. Bên cạnh đó, cần hoàn thiện hệ thống xếp hạng nội bộ và hàng tháng phân tích các biến động về mức độ rủi ro cho từng ngành cũng như doanh nghiệp, đảm bảo không vượt quá các hạn mức đã xây dựng, qua đó duy trì nhất quán mức “khẩu vị rủi ro”./.
Tìm theo ngày :