31/12/2020 15:18
Xem với cỡ chữ

Quy định về giải thể và phá sản doanh nghiệp

Như Hoa (bài đăng số Tháng 12/2020 Tạp chí HTPT)
Trong nhiều năm gần đây, số lượng doanh nghiệp được thành lập và hoạt động ở Việt Nam ngày càng tăng. Thực tiễn cho thấy các doanh nghiệp có vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và thu nhập cho người lao động, tăng thu ngân sách, đầu tư cơ sở hạ tầng cho xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế...
Có nhiều doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng hiệu quả, lớn mạnh. Bên cạnh đó, do những nguyên nhân chủ quan/khách quan dẫn đến nhiều doanh nghiệp phải chấm dứt hoạt động. Phá sản và giải thể là hai hình thức chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp. Để tạo cơ sở pháp lý giúp doanh nghiệp chấm dứt hoạt động một cách hợp pháp và giảm thiểu những hệ lụy về mặt kinh tế - xã hội, Việt Nam đã quan tâm và ngày càng hoàn thiện các quy định của pháp luật về giải thể, phá sản. Trên cơ sở nghiên cứu Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Phá sản 2014 và các văn bản dưới luật có liên quan, tác giả đưa ra những so sánh sự giống và khác nhau cơ bản giữa giải thể và phá sản doanh nghiệp. 
Theo khoản 2 Điều 4 của Luật Phá sản 2014: Phá sản là tình trạng doanh nghiệp mất khả năng thanh toán và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản.
Giải thể doanh nghiệp là việc chấm dứt sự tồn tại của một doanh nghiệp theo ý chí của doanh nghiệp hoặc của cơ quan có thẩm quyền.
Giải thể và phá sản có những điểm giống nhau đó là: Đều dẫn đến việc chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp. Doanh nghiệp bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải thực hiện các nghĩa vụ về tài sản.
Hai hình thức này có nhiều sự khác nhau.
Một là, về tính chất của thủ tục và căn cứ pháp lý 
Giải thể doanh nghiệp là một loại thủ tục hành chính do người có thẩm quyền trong doanh nghiệp tiến hành, thông báo cho cơ quan đăng ký kinh doanh, được hiểu và thực hiện theo Luật Doanh nghiệp 2014. 
Việc phá sản doanh nghiệp là một loại thủ tục tư pháp do Tòa án có thẩm quyền quyết định sau khi nhận được đơn yêu cầu hợp lệ. Trình tự, thủ tục tiến hành phá sản được tuân thủ theo Luật Phá sản 2014.
Hai là, về nguyên nhân dẫn đến giải thể, phá sản doanh nghiệp
Theo Điều 201 của Luật Doanh nghiệp 2014, doanh nghiệp bị giải thể khi thuộc một trong các trường hợp sau: Kết thúc thời hạn hoạt động ghi trong Điều lệ của công ty mà không có quyết định gia hạn. Theo quyết định của chủ doanh nghiệp đối với doanh nghiệp tư nhân, của tất cả các thành viên hợp danh đối với công ty hợp danh, của Hội đồng thành viên, chủ sở hữu công ty đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, của Đại hội đồng cổ đông đối với công ty cổ phần. Công ty không còn đủ số lượng thành viên tối thiểu theo quy định của Luật Doanh nghiệp trong thời hạn 6 tháng liên tục mà không làm thủ tục chuyển đổi loại hình doanh nghiệp. Bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Tuy nhiên, doanh nghiệp chỉ được giải thể khi bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác, doanh nghiệp không trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án hoặc cơ quan trọng tài.
Trong khi đó, theo Điều 4 của Luật Phá sản 2014: doanh nghiệp được công nhận là phá sản khi đồng thời thỏa mãn hai điều kiện đó là doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản.
Ba là, về trình tự, thủ tục thực hiện
Giải thể doanh nghiệp bao gồm các bước cơ bản sau:
- Doanh nghiệp thông qua quyết định giải thể;
- Doanh nghiệp tổ chức thanh lý tài sản;
- Doanh nghiệp gửi thông báo, quyết định giải thể và biên bản họp về việc giải thể đến các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan;
- Cơ quan đăng ký kinh doanh thông báo doanh nghiệp đang làm thủ tục giải thể;
- Thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp;
- Doanh nghiệp gửi đề nghị giải thể cho cơ quan đăng ký kinh doanh;
- Cơ quan đăng ký kinh doanh cập nhật tình trạng doanh nghiệp bị giải thể trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.
Phá sản doanh nghiệp bao gồm các thủ tục chính sau:
- Người yêu cầu nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đến tòa án nhân dân có thẩm quyền;
- Tòa án xử lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản;
- Thương lượng giữa chủ nợ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản với doanh nghiệp mất khả năng thanh toán;
- Người yêu cầu phá sản nộp lệ phí phá sản, tạm ứng chi phí phá sản;
- Tòa án thụ lý và thông báo việc thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản;
- Tòa án quyết định và thông báo việc mở hoặc không mở thủ tục phá sản;
- Tòa án chỉ định Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản;
- Kiểm kê tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán;
- Triệu tập Hội nghị chủ nợ;
- Xử lý khoản nợ có bảo đảm;
- Tòa án quyết định tuyên bố doanh nghiệp phá sản;
- Cơ quan thi hành án dân sự thi hành quyết định tuyên bố phá sản.
Bốn là, doanh nghiệp bị cấm một số hoạt động kể từ khi có quyết định giải thể, quyết định mở thủ tục phá sản
Theo Điều 205 của Luật Doanh nghiệp: Kể từ khi có quyết định giải thể doanh nghiệp, nghiêm cấm doanh nghiệp, người quản lý doanh nghiệp thực hiện các hoạt động sau đây: Cất giấu, tẩu tán tài sản; Từ bỏ hoặc giảm bớt quyền đòi nợ; Chuyển các khoản nợ không có bảo đảm thành các khoản nợ có bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp; Ký kết hợp đồng mới (trừ trường hợp để thực hiện giải thể doanh nghiệp); Cầm cố, thế chấp, tặng cho, cho thuê tài sản; Chấm dứt thực hiện hợp đồng đã có hiệu lực; Huy động vốn dưới mọi hình thức.
Theo Điều 48 của Luật Phá sản: Sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản, cấm doanh nghiệp thực hiện các hoạt động sau: Cất giấu, tẩu tán, tặng, cho tài sản; Thanh toán các khoản nợ không có bảo đảm, trừ khoản nợ không có bảo đảm phát sinh sau khi mở thủ tục phá sản và trả lương cho người lao động; Từ bỏ quyền đòi nợ; Chuyển khoản nợ không có bảo đảm thành nợ có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần bằng tài sản của doanh nghiệp.
Năm là, về thứ tự thanh toán các khoản nợ
Theo Điều 202 của Luật Doanh nghiệp 2014 thì các khoản nợ của doanh nghiệp giải thể được thanh toán theo thứ tự sau:
- Các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội và các quyền lợi khác của người lao động theo thỏa ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết;
- Nợ thuế;
- Các khoản nợ khác.
- Sau khi đã thanh toán hết các khoản nợ và chi phí giải thể doanh nghiệp, phần còn lại chia cho chủ sở hữu doanh nghiệp.
Về việc thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp bị phá sản được quy định tại Điều 53 và Điều 54 của Luật Phá sản như sau:
- Khoản nợ có bảo đảm được xử lý trước khi tòa tuyên bố doanh nghiệp phá sản. Cụ thể:
+ Đối với khoản nợ có bảo đảm được xác lập trước khi Tòa án thu lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản được thanh toán bằng tài sản bảo đảm đó;
+ Trường hợp giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán số nợ thì phần nợ còn lại sẽ được thanh toán trong quá trình thanh lý tài sản của doanh nghiệp; nếu giá trị tài sản bảo đảm lớn hơn số nợ thì phần chênh lệch được nhập vào giá trị tài sản của doanh nghiệp.
- Khi Tòa án ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp phá sản thì tài sản của doanh nghiệp được phân chia theo thứ tự sau:
+ Chi phí phá sản;
+ Khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với người lao động, quyền lợi khác theo hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể đã ký kết;
+ Khoản nợ phát sinh sau khi mở thủ tục phá sản nhằm mục đích phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã;
+ Nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước; khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho chủ nợ trong danh sách chủ nợ; khoản nợ có bảo đảm chưa được thanh toán do giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nợ;
- Trường hợp giá trị tài sản của doanh nghiệp sau khi đã thanh toán đủ các khoản nợ mà vẫn còn thì thuộc về các chủ sở hữu doanh nghiệp. Nếu giá trị tài sản không đủ để thanh toán các khoản nợ thì từng đối tượng cùng một thứ tự ưu tiên được thanh toán theo tỷ lệ phần trăm tương ứng với số nợ.
Sáu là, sự khác nhau về chi phí nộp cho cơ quan Nhà nước khi doanh nghiệp giải thể, phá sản
Việc giải thể là do doanh nghiệp tiến hành. Trên phương diện quản lý Nhà nước, theo Điều 202 của Luật Doanh nghiệp 2014: cơ quan đăng ký kinh doanh có trách nhiệm đăng thông tin về việc giải thể của doanh nghiệp trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Tuy nhiên doanh nghiệp không phải nộp chi phí đăng thông tin này (theo khoản 2 Điều 5 Thông tư 47/2019/TT-BTC ngày 05/8/2019 của Bộ Tài Chính quy định về mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí cung cấp thông tin doanh nghiệp, lệ phí đăng ký doanh nghiệp). Như vậy, khi doanh nghiệp giải thể sẽ không phải nộp bất cứ loại phí, lệ phí nào cho cơ quan nhà nước.
Trong khi đó, việc phá sản của doanh nghiệp do tòa án chủ trì, viện kiểm sát, cơ quan thi hành án phối hợp tổ chức thực hiện. Chính vì vậy, theo Điều 22 và 23 của Luật Phá sản 2014 thì người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải nộp lệ phí phá sản và tạm ứng chi phí phá sản (trừ một số trường hợp đặc biệt được miễn nộp lệ phí phá sản và không phải tạm ứng chi phí phá sản). 
Bảy là, về quy định của Nhà nước đối với người quản lý, điều hành sau khi doanh nghiệp bị giải thể, phá sản
Pháp luật hiện hành không đặt ra hạn chế quyền tự do hoạt động, kinh doanh của người quản lý, điều hành doanh nghiệp bị giải thể.
Tuy nhiên, người quản lý, điều hành doanh nghiệp phá sản bị hạn chế một số quyền (trừ trường hợp doanh nghiệp bị phá sản vì lý do bất khả kháng). Cụ thể, tại Điều 130 của Luật Phá sản 2014 quy định như sau: Người giữ chức vụ Chủ tịch, Tổng giám đốc, Giám đốc, thành viên Hội đồng quản trị của doanh nghiệp 100% vốn nhà nước bị tuyên bố phá sản không được đảm đương các chức vụ đó ở bất kỳ doanh nghiệp nhà nước nào kể từ ngày doanh nghiệp tuyên bố phá sản. Người đại diện phần vốn góp của Nhà nước ở doanh nghiệp có vốn nhà nước mà doanh nghiệp đó bị tuyên bố phá sản không được đảm đương các chức vụ quản lý ở bất kỳ doanh nghiệp nào có vốn của Nhà nước./.
Tìm theo ngày :