29/10/2014 00:00
Xem với cỡ chữ

Một số gợi mở đối với Quản lý rủi ro trong cho vay lại vốn ODA của NHPT (Kỳ cuối)

BAN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN - NHPT

Kỳ III: Các khuyến nghị đối với Nhà nước, các Chủ đầu tư vay lại vốn ODA của NHPT
3.1. Đối với Nhà nước
Thứ nhất, hoàn thiện và đổi mới cơ chế quản lý vay nợ nước ngoài, trong đó tập trung vào quản trị nguồn vốn ODA.
Nguồn vốn vay nợ nước ngoài là nguồn vốn quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia. Một trong những bộ phận cấu thành của nguồn vốn nước ngoài chính là nguồn hỗ trợ phát triển chính thức - ODA. Trong những năm qua nguồn vốn ODA đã có những đóng góp đáng kể vào thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, tuy nhiên, cơ chế quản lý nguồn vốn này vẫn còn nhiều điểm chưa phù hợp. Để huy động và sử dụng có hiệu quả, tránh những rủi ro tiềm ẩn, Nhà nước cần sớm hoàn thiện cơ chế quản lý nợ nước ngoài nói chung và nguồn tài trợ ODA nói riêng cho phù hợp với điều kiện hiện tại. Việc hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý nguồn ODA tập trung vào một số nội dung sau:
- Tập trung nguồn vốn ODA vào một cơ quan quản lý đó là NHPT, cơ quan này vừa là đơn vị được bảo lãnh nhận vốn ODA vừa là cơ quan cho vay lại vốn ODA và trả nợ nước ngoài, tránh tình trạng để nhiều đầu mối tham gia quản lý và giải ngân vốn ODA như hiện nay. Nhiều cơ quan tham gia tiếp nhận và giải ngân nguồn vốn ODA vừa phức tạp trong quản lý vừa có thể xảy ra tình trạng không thống nhất các quy định đối với cho vay lại.
- Nghiên cứu và xem xét việc thiết kế một hệ thống lãi suất ưu đãi hợp lý hơn nữa. Lãi suất ưu đãi được thiết kế để khuyến khích đầu tư đối với các chủ dự án, các ngành và các lĩnh vực đầu tư, hơn nữa thể hiện quan điểm về phát triển kinh tế của Chính phủ trong từng giai đoạn. Tuy nhiên, hệ thống lãi suất ưu đãi trong thời gian qua là quá thấp, không điều chỉnh trong suốt qúa trình thực hiện dự án đã tỏ ra không hợp lý. Sự bất hợp lý thể hiện trên các mặt; (i) làm thiệt hại cho Nhà nước; (ii) không tạo ra sự bình đẳng trong đầu tư giữa các dự án khác cùng khu vực, cùng ngành, cùng thời điểm; (iii) không tạo ra áp lực đối với năng lực quản trị tài chính của chủ dự án vay vốn; (iv) lãi suất quá thấp có thể làm nảy sinh tiêu cực trong hoạt động của ngân hàng từ việc thẩm định, duyệt vay, giải ngân... Việc thiết kế một hệ thống lãi suất hợp lý, linh hoạt có thể áp dụng các mức lãi suất khác nhau với ngành nghề, dự án và lĩnh vực khác nhau, đặc biệt áp dụng cơ chế điều chỉnh lãi suất trong quá trình thực hiện dự án vẫn đảm bảo mục tiêu ưu đãi khuyến khích của Nhà nước và giải quyết được các bất cập.
- Sớm nghiên cứu và có chính sách mở rộng hơn nữa đối tượng vay lại vốn ODA sang cả khu vực tư nhân, thực hiện điều này vừa tạo ra sự công bằng trong đầu tư của nền kinh tế vừa làm tăng tính cạnh tranh giữa các chủ Dự án, giảm thấp được rủi ro. Trong quản lý nguồn vốn ODA cần xem xét việc loại bỏ sự phân biệt dự án thuộc Nhà nước hay tư nhân, mà nên tập trung vào mục tiêu hiệu quả của dự án và khả năng thanh toán nợ.
- Sớm nghiên cứu và chấp thuận việc thực hiện cơ chế xếp hạng uy tín DN trong tín dụng ưu đãi nói chung và tín dụng cho vay lại vốn ODA nói riêng. Quá trình đó, cần nhanh chóng xây dựng các quy trình, chỉ tiêu đánh giá xếp hạng tín nhiệm DN đối với các DN vay vốn. Ngoài các tổ chức của Nhà nước, nên đồng ý để các tổ chức tư nhân đủ tư cách tham gia xếp hạng tín nhiệm DN. Quá trình thẩm định hồ sơ, duyệt vay, giải ngân và thu nợ phải dựa vào thông tin công bố về tín nhiệm của các DN, chủ dự án từ các tổ chức đủ tư cách xếp hạng. Thực hiện được đề xuất này vừa tạo ra sự công bằng, bình đẳng trong tín dụng ưu đãi vừa phòng tránh và kiểm soát rủi ro hiệu quả.
Thứ hai, điều chỉnh một số chính sách quản lý đối với NHPT.
NHPT được thành lập làm công cụ của Chính phủ để thực hiện công cuộc phát triển kinh tế theo trọng tâm ngành nghề, lĩnh vực trong từng thời kỳ. Tuy nhiên trong thời gian qua, việc can thiệp của Nhà nước vào quá trình hoạt động của NHPT là quá sâu quá mạnh. Thực tế này dẫn đến một quy trình một cơ chế hết sức cứng nhắc đã được hình thành và áp dụng. Kết quả là ngân hàng không được thể hiện vai trò tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong mọi hoạt động. Cơ chế như vậy cho nên mọi rủi ro tổn thất trong cho vay lại vẫn nằm chờ ý kiến, chắc chắn thiệt hại cuối cùng thuộc về ngân sách Nhà nước. Từ đó, việc giảm sự can thiệp của Nhà nước được đặt ra như một yêu cầu để thực hiện các mục tiêu to lớn hơn và hoàn thành sứ mệnh của NHPT. Quá trình này cần tập trung với một số nội dung:
- Sửa đổi cơ chế và chính sách, từng bước giảm sự can thiệp của nhà nước đối với hoạt động của ngân hàng như hiện nay. Nhà nước chỉ quản lý và giám sát hoạt động của ngân hàng, cụ thể hoạt động cho vay lại vốn ODA ở mức độ quản lý Nhà nước như đối với các ngân thương mại. Hàng năm, các Bộ ngành cần trình Thủ tướng những lĩnh vực, ngành, dự án cần ưu đãi, trên cơ sở đó Chính phủ đưa ra một tỷ lệ vốn kế hoạch ODA cho vay lại theo chỉ định, còn lại toàn quyền cho vay lại thuộc NHPT trong khuôn khổ quy định chung đã ban hành. Quá trình này thực thi theo hướng giảm dần các dự án cho vay lại theo chỉ thị và cũng có nghĩa là sự can thiệp của nhà nước giảm xuống.
- Trong tư duy quản lý nền kinh tế, bên cạnh coi NHPT là công cụ của Nhà nước, để thực thi các mục tiêu quan trọng của chiến lược phát triển kinh tế, cần phải nhận thức việc chuyển vai trò của ngân hàng này thành công cụ của nền kinh tế. Điều này có thể làm cho ngân hàng trong hoạt động thể hiện cả hai vai trò, một mặt theo chương trình, mục tiêu của nhà nước, mặt khác nâng dần khả năng tự chủ tự chịu trách nhiệm trong hoạt động như một ngân hàng thương mại. Nếu tư duy quản lý như vậy vẫn đạt mục tiêu của Nhà nước và bên cạnh đó tạo ra tính chủ động, sáng tạo tự chịu trách nhiệm của ngân hàng. Khi đó ngân hàng hoạt động tự chủ vừa có thể đóng góp vào ngân sách nhà nước thông qua thuế thu nhập DN của ngân hàng.
- Sớm nghiên cứu và chỉ đạo một cách thống nhất để NHPT trích lập quỹ dự phòng rủi ro cho vay lại đối với cả các Dự án cho vay theo chỉ định NHPT không chịu rủi ro. Trên thực tế rủi ro, nợ quá hạn của các dự án cho vay lại vốn ODA này hàng năm ngày càng lớn, nhưng vì không trích lập quỹ dự phòng rủi ro nên phải sử dụng đến nguồn ngân sách Nhà nước là tất yếu. Thực thi biện pháp này là hết sức quan trọng và cần thiết bởi các lý do sau: Thứ nhất, tuân thủ quy định chung của ngành ngân hàng là trích lập dự phòng rủi ro đối với hoạt động tín dụng; Thứ hai, tạo ra sự công bằng và bình đẳng đối với các chủ dự án cũng như lĩnh vực đầu tư; Thứ ba, giảm bớt gánh nặng (bù tổn thất rủi ro cho vay lại vốn ODA) cho NSNN.
Thứ ba, ổn định một số chính sách có ảnh hưởng đến hoạt động cho vay lại vốn ODA.
Hoạt động tín dụng trong đó bao gồm tín dụng cho vay lại vốn ODA bị ảnh hưởng tác động nhiều bởi các chính sách của Nhà nước. Sự ảnh hưởng tác động không tích cực sẽ trở thành nguyên nhân của những rủi ro có thể xảy ra. Tương tự như các hoạt động cho vay khác của ngân hàng, cho vay lại vốn ODA và cả quá trình hoạt động của ngân hàng cần một môi trường hoạt động ổn định mà cụ thể là hệ thống các chính sách ít thay đổi. Để có một môi trường hoạt động khá ổn định cho các ngân hàng trong đó có NHPT, Nhà nước cần tập trung một số biện pháp sau:
- Xây dựng và thực thi chính sách quy hoạch, phát triển vùng miền và ngành hợp lý, ổn định dài hạn và bền vững. Dựa trên cơ sở đó, phân bổ nguồn vốn ODA cho vay lại tương xứng phù hợp, ít bị xáo trộn, giảm thấp nguy cơ rủi ro. Trong thời gian qua việc quy hoạch vùng miền, ngành và lĩnh vực chưa thực sự hợp lý dẫn đến cơ cấu vốn ODA cho vay lại cũng bị ảnh hưởng theo. Quy hoạch vùng miền, quy hoạch và phát triển các ngành của nền kinh tế phải được nghiên cứu kỹ hơn nữa, khi đã công bố quy hoạch phải thực hiện triệt để theo quy hoạch.
- Cần xem xét kỹ lưỡng và thận trọng hơn nữa việc thực thi chính sách lãi suất. Nếu chính sách lãi suất ổn định và hợp lý sẽ tạo đà tốt cho cả nền kinh tế phát triển theo hướng tích cực, hệ thống lãi suất không ổn định sẽ tạo thành khó khăn, bất ổn cho nền kinh tế. Trong thời gian qua, hệ thống lãi suất biến động phức tạp, mang đến quá nhiều khó khăn cho cộng đồng DN. Trong khi đó lãi suất ưu đãi nói chung và lãi suất cho vay lại nói riêng khá ổn định, thấp do đó tất sẽ nảy sinh tiêu cực và rủi ro trong giải ngân nguồn vốn này. Hơn nữa, sự điều chỉnh lãi suất vừa qua không những không thể hiện được sự linh hoạt của việc điều hành mà còn thể hiện sự yếu kém của chính sách và hệ thống quản lý Nhà nước đối với ngành tài chính ngân hàng.
- Điều chỉnh chính sách đầu tư công phải phù hợp và linh hoạt hơn nữa, việc điều chỉnh chính sách đầu tư công là cần thiết nhưng điều chỉnh như vừa qua là quá tay, không cần thiết, không cân bằng kinh tế so với giai đoạn 2008 - 2010. Chính sách đầu tư công có quan hệ và ảnh hưởng nhiều đến việc giải ngân nguồn vốn ODA của Chính phủ, bởi vì nhiều dự án sử dụng nguồn vốn ODA cho vay lại nằm trong quần thể các dự án công, hoặc hiệu quả khai thác sử dụng phụ thuộc các dự án công của Nhà nước. Việc điều chỉnh chính sách giai đoạn vừa qua mang đến khá nhiều hệ lụy, cụ thể các dự án đầu tư công bị đình trệ, dở dang, DN thuộc khu vực này khó khăn phá sản. Khi các dự án đầu tư công bị đình trệ cũng dẫn đến dự án cho vay lại vốn ODA bị ảnh hưởng theo vì trên thực tế, dự án đầu tư bằng nguồn vốn ODA cho vay lại là một phần, một bộ phận có liên quan của một hệ thống lớn. Do vậy, các dự án ODA cũng bị dở dang hoặc hoàn thành nhưng không sử dụng được do không đồng bộ do dự án đầu tư công bị dừng lại, và kết quả là lãng phí ngân sách, rủi ro đầu tư xảy ra.
3.2. Đối với các chủ dự án vay lại vốn ODA:
Trong những nguyên nhân gây ra rủi ro đối với hoạt động cho vay lại vốn ODA và tác động cản trở đến hoạt động quản lý rủi ro có một số nguyên nhân xuất phát từ khách hàng hay chủ các dự án vay vốn ODA của NHPT. Những nguyên nhân tồn tại từ phía chủ thể này có tác động làm cản trở hiệu quả của quá trình quản lý rủi ro có cả những nguyên nhân mang tính khách quan và những nguyên nhân chủ quan. Do vậy khi đề xuất các giải pháp tăng cường năng lực quản lý rủi ro của ngân hàng cũng cần phải có những giải pháp đối với chủ thể quan trọng này. Việc đề xuất những giải pháp gắn với chủ thể liên quan trực tiếp này có ý nghĩa quan trọng, có thể làm tăng cường năng lực quản lý rủi ro đối với hoạt động cho vay lại vốn ODA ở NHPT.
Thứ nhất, nâng cao năng lực quản trị kinh doanh, vận hành dự án.
Năng lực của chủ dự án vay lại vốn ODA cũng tương tự và được đánh giá như năng lực của các chủ dự án vay vốn từ các nguồn khác. Năng lực quản trị kinh doanh của các chủ dự án quyết định đến hiệu quả và lợi ích mà chủ đầu tư dự án nhận được. Yếu tố lợi ích và hiệu quả của chủ đầu tư các dự án vay lại vốn ODA có thể được nhìn nhận ở các góc độ và khía cạnh khác nhau như kinh tế, xã hội, trực tiếp, gián tiếp, dài hạn hay ngắn hạn. Bên cạnh đó, năng lực quản trị kinh doanh của chủ đầu tư cũng ảnh hưởng mạnh đến mức độ rủi ro của dự án, do đó ảnh hưởng đến mức độ rủi ro đối với nguồn vốn vay của ngân hàng. Từ thực tế này, cần phải nâng cao năng lực quản trị vận hành dự án đối với các chủ đầu tư thông qua một số biện pháp cụ thể sau:
- Đối với các chủ đầu tư vay vốn là các DN, cần phải tự nâng cao năng lực quản trị kinh doanh bằng cách: tự tìm tòi nghiên cứu và học hỏi những vấn đề có liên quan đến dự án và quy trình quản trị vận hành dự án đầu tư; tham gia các khóa đào tạo về các chương trình nâng cao năng lực quản trị do các tổ chức đào tạo có uy tín tổ chức; tích cực tham gia tiếp thu những chương trình trợ giúp và tư vấn của NHPT. Định kỳ tự đánh giá năng lực quản trị của đơn vị một cách nghiêm túc khách quan, thường xuyên học hỏi kinh nghiệm quản trị của các dự án khác cùng ngành không phân biệt sở hữu để tìm ra phương pháp quản trị cho mình. Riêng mảng quản trị tài chính phải đặc biệt quan tâm, xây dựng hệ thống quản trị theo chuẩn mực và quy định của ngành, ngoài ra, phải tự đào tạo bồi dưỡng các chủ dự án đủ trình độ năng lực đọc và kiểm soát được dòng tài chính của dự án. Về quản trị tài chính dự án, vì có liên quan chặt đến việc thanh toán nợ đối với ngân hàng do đó có thể kết hợp với các phòng ban chức năng của ngân hàng để xây dựng các chương trình huấn luyện đào tạo chuyên viên quản trị nhằm đạt được trình độ quản trị theo yêu cầu, tránh được những rủi ro có thể xẩy ra.
Đối với các chủ dự án là các DN, cần phải thực hiện quá trình đào tạo và đào tạo lại người lao động theo chương trình kế hoạch của DN. Đối với đội ngũ quản trị dự án, lãnh đạo DN cần thực hiện các chương trình tự đào tạo từng cá nhân trong DN nhằm nâng cao năng lực quản trị DN và dự án đầu tư.
- Trường hợp chủ đầu tư dự án là các cơ quan Nhà nước thực hiện các dự án đầu tư vào cơ sở hạ tầng, y tế, giáo dục..., không giống như các dự án kinh doanh khác. Các cơ quan chủ đầu tư và các nhà thầu dự án vẫn cần phải nâng cao năng lực quản trị dự án đầu tư. Đối với các dự án vay lại vốn ODA loại này, chủ dự án không tính hiệu quả kinh tế như DN mà chủ yếu tính toán sự đóng góp của dự án dưới góc độ xã hội đối với vùng và địa phương. Khi đó, năng lực của chủ đầu tư được đánh giá ở các góc độ như: Năng lực chọn nhà thầu, năng lực quản trị tiến độ của dự án, quản trị chất lượng công trình dự án, khai thác công trình...
Hiện nay ở hầu hết các địa phương (tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương) đều thành lập các Ban quản lý dự án đầu tư theo từng ngành cụ thể như Ban quản trị dự án nông nghiệp, công nghiệp, giao thông, xây dựng, y tế, giáo dục... Qua khảo sát thực địa, năng lực quản trị của các đơn vị này còn rất thấp, nhiều trường hợp kết quả số liệu và báo cáo của Ban quản lý đều do nhà thầu đưa ra, chính hiện tượng này là một trong những rủi ro khá lớn đối với nguồn vốn cho vay lại của ngân hàng. Do vậy, các chủ đầu tư thuộc nhóm này cần nhanh chóng áp dụng các biện pháp nhằm nâng cao năng lực quản trị của ban quản lý các dự án đầu tư: Chọn đúng người để giao việc, tuyển dụng vào Ban Quản lý các dự án phải đúng chuyên môn nghiệp vụ theo yêu cầu thực tế, thường xuyên bồi dưỡng và cập nhật kiến thức chuyên môn và quản trị đối với đội ngũ chuyên viên tại các ban quản lý. Quá trình đấu thầu và chọn hoặc chỉ định thầu các công trình cần phải thực hiện theo đúng nguyên tắc, trong đó năng lực quản trị kinh doanh, thực hiện dự án của nhà thầu phải được xem là một trong số các chỉ tiêu quan trọng hàng đầu. Song song với việc chọn nhà thầu thực hiện công trình, cần phải chuẩn bị đào tạo một đội ngũ nhân sự để có thể tiếp nhận và khai thác sử dụng có hiệu quả dự án đầu tư, ví dụ, Ban quản lý khai thác cầu, đường, Ban quản lý khai thác bến cảng...
Thứ hai, nâng cao ý thức trách nhiệm, thực hiện đúng cam kết trong hoạt động vay lại vốn ODA.
Nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong hoạt động cho vay lại vốn ODA cũng có thể xuất phát từ ý thức và trách nhiệm của các chủ đầu tư. Nguyên nhân này đã được chỉ ra về cơ bản mang tính chủ quan của chủ đầu tư các dự án. Để đề phòng và giảm nguy cơ xẩy ra rủi ro đối với các khoản vay ODA, các chủ đầu tư cũng phải xem xét đánh giá một cách nghiêm túc về tinh thần trách nhiệm của mình.
- Nâng cao ý thức và tinh thần trách nhiệm của bản thân chủ dự án trong hoạt động vay lại vốn ODA của NHPT. Gắn trách nhiệm của từng cá nhân cụ thể của chủ đầu tư đối với dự án đầu tư nói chung và khoản vay ODA nói riêng. Không phân biệt nguồn vốn ưu đãi hay không ưu đãi trong việc quản trị tài chính và quản trị dự án. Trong quá trình triển khai dự án đầu tư không nên ỷ lại vào sự ưu đãi của ngân hàng, bởi vì, ngoài trách nhiệm về tài chính phải hoàn thành nghĩa vụ với NHPT, kết quả thực hiện và trách nhiệm của chủ đầu tư còn ảnh hưởng đến uy tín của chủ đầu tư trên thị trường.
- Thực hiện đúng các cam kết tín dụng đối với NHPT. Việc thực hiện đúng các cam kết đối với ngân hàng cũng chính là thể hiện tinh thần trách nhiệm của chủ dự án đối với ngân hàng một cách cụ thể và chi tiết. Các cam kết thường mang tính rất cụ thể như: mục đích sử dụng, thời hạn trả nợ, số nợ...
+ Trước hết chủ đầu tư phải sử dụng vốn vay vào đúng mục đích đã thể hiện trong dự án và hồ sơ vay vốn. Thực hiện đúng cam kết này thể hiện tinh thần của chủ đầu tư và tránh những rủi ro tiềm ẩn có thể xẩy ra. Nhiều trường hợp chủ đầu tư không thực hiện đúng cam kết này, sử dụng vốn vay vào mục đích khác, khi đầu tư gặp khó khăn chủ đầu tư phá sản, ngân hàng mất vốn là một tất yếu.
+ Thực hiện thanh toán nợ vay theo đúng cam kết về thời gian thanh toán và số nợ cần thanh toán. Hiện nay, nợ quá hạn là một trong những biểu hiện chủ yếu về tình trạng rủi ro tại NHPT. Nợ quá hạn như đã phân tích có thể xuất phát từ nguyên nhân khách quan và chủ quan. Tình huống do nguyên nhân chủ quan xẩy ra khi chủ đầu tư chây ỳ không chịu thanh toán nợ cho ngân hàng theo cam kết. Thực trạng này được giải quyết triệt để khi và chỉ khi các chủ đầu tư nhận thức đúng về tinh thần, cam kết và uy tín của chủ đầu tư đối với ngân hàng, trong sự kết hợp tốt giữa hai bên vay và cho vay.
- Tích cực kết hợp với ngân hàng trong quá trình thanh toán nợ vay. Hiệu quả hoạt động của cả hai bên nói chung và thanh toán nợ nói riêng phụ thuộc rất nhiều vào sự hợp tác giữa hai bên. Trong mối quan hệ này, sự hợp tác sẵn sàng từ phía ngân hàng gần như là điều hiển nhiên, chỉ còn phụ thuộc vào vào phía chủ đầu tư các dự án vay vốn là chủ yếu. Các khoản nợ ODA quá hạn hiện nay của ngân hàng hầu hết là không nhận được sự hợp tác chặt chẽ từ phía chủ đầu tư dự án. Do đó, các chủ đầu tư cần phải hợp tác tích cực với ngân hàng trong cả quá trình triển khai dự án, đặc biệt là hoạt động thanh toán nợ của dự án.   
 - Thường xuyên trao đổi thông tin với ngân hàng về các vấn đề có liên quan, thông tin qua lại giữa hai chủ thể là một yêu cầu mang tính nguyên tắc bắt buộc. Sự trao đổi thông tin góp phần làm tăng hiệu quả triển khai dự án đầu tư và làm giảm đáng kể rủi ro nguồn vốn cho vay của ngân hàng. Khi các vấn đề phát sinh giữa các bên, nếu thông tin trao đổi kịp thời và chính xác thì phương án giải quyết sẽ nhanh và hiệu quả. Về phía ngân hàng như đề xuất trên, nhận thông tin khách hàng bao gồm trung tâm thông tin khách hàng, các bộ phận nghiệp vụ, về phía chủ đầu tư có thể ban quản trị dự án, đại diện chủ đầu tư đứng ra cung cấp và trao đổi thông tin với ngân hàng. Các thông tin trao đổi như tiến độ dự án, những khó khăn mà dự án gặp phải, tình hình tài chính của dự án... Quá trình trao đổi thông tin phải thường xuyên mang tính cập nhật, nội dung trao đổi phải chính xác, có như vậy mới có thể phòng và tránh được những rủi ro xảy ra./.

Tìm theo ngày :