29/10/2014 00:00
Xem với cỡ chữ

Xác định nguyên giá tài sản thế chấp: Cần loại trừ các chi phí không đảm bảo khả năng thu hồi

TS.Nguyễn Cảnh Hiệp

Định giá tài sản bảo đảm tiền vay (BĐTV) là một khâu bắt buộc trong quy trình nhận BĐTV của các tổ chức tín dụng. Nó có vai trò quan trọng trong việc xác định chính xácgiá trị của tài sản mà tổ chức tín dụng nhận cầm cố, thế chấp; và từ đó ảnh hưởng đến việc xác định lượng vốn cho vay. Theo ý nghĩa này, việc định giá tài sản BĐTV có ảnh hưởng rất lớn đến sự an toàn của vốn vay. Nếu tài sản BĐTV được định giá đúng đắn thì tổ chức tín dụng có thể hạn chế được những tổn thất về vốn hoặc thu nhập trong trường hợp phải xử lý tài sản BĐTV để thu hồi nợ.
Trong bài viết dưới đây, xin trao đổi một số vấn đề liên quan đến việc định giá theo giá trị sổ sách của một số loại tài sản thường được nhận thế chấp bổ sung trong hệ thống Ngân hàng Phát triển Việt Nam (NHPT) thời gian qua. Đó là các loại máy móc, thiết bị và hàng hoá mà khách hàng vay vốn hoặc bên thứ ba thế chấp cho NHPT ngoài tài sản hình thành từ vốn vay.
Theo quy định của NHPT, đối với các loại tài sản BĐTV là máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ, phương tiện vận tải, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, hàng tiêu dùng, các Chi nhánh NHPT có thể thực hiện việc định giá căn cứ vào giá trị hợp đồng mua bán, giá thị trường hoặc giá trị còn lại theo sổ sách kế toán của tài sản. NHPT cũng cho phép các Chi nhánh và bên sở hữu tài sản thỏa thuận thuê tổ chức tư vấn, tổ chức có chức năng chuyên môn thẩm định giá hoặc sử dụng Tổ định giá do Chi nhánh thành lập để xác định giá trị của tài sản.
Quá trình theo dõi tại Hội sở chính cho thấy, các Chi nhánh đều thực hiện đúng quy định của NHPT trong việc lựa chọn căn cứ và cách thức định giá tài sản. Thậm chí một số Chi nhánh còn yêu cầu bên thế chấp thuê công ty thẩm định giá xác định giá trị của tài sản và sử dụng chứng thư thẩm định giá được phát hành như một nguồn thông tin tham khảo để Tổ định giá của Chi nhánh xác định giá trị tài sản.
Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, mặc dù đã tham khảo cả kết quả định giá của công ty thẩm định giá độc lập, nhưng Chi nhánh vẫn xác định giá trị của tài sản thế chấp một cách thiếuhợplý, mà trong đó phổ biến là việc tính cả các chi phí không thể hoặc khó thu hồi được trongnguyên giá của tài sản vào giá trị BĐTV.
Để thuận tiện cho quá trình theo dõi của bạn đọc, chúng tôi điểm lại một số nội dung liên quan đến việc xác định nguyên giá của tài sản được Bộ Tài chính quy định đang còn hiệu lực đến thời điểm hiện nay.
Theo chế độ quản lý tài chính hiện hành đối với doanh nghiệp, nguyên giá (hoặc giá gốc) của tài sản cố định hữu hình và các loại hàng tồn kho  thường được tính bao gồm toàn bộ các chi phí mà chủ tài sản đã bỏ ra để có tài sản đó tính đến thời điểm đưa tài sản vào trạng thái sẵn sàng sử dụng. Đối với tài sản cố định hữu hình, nguyên giá bao gồm: (i) giá mua (đã trừ các khoản được chiết khấu thương mại hoặc giảm giá), (ii) các khoản thuế không được hoàn lại (ví dụ: thuế nhập khẩu) và (iii) các chi phí liên quan trực tiếp đến việc đưa tài sản vào trạng thái sẵn sàng sử dụng, như: chi phí chuẩn bị mặt bằng; chi phí vận chuyển và bốc xếp ban đầu; chi phí lắp đặt, chạy thử; chi phí chuyên gia và các chi phí liên quan trực tiếp khác . Còn đối với hàng tồn kho, giá gốc bao gồm: (a) chi phí mua, (b) chi phí chế biến và (c)các chi phí liên quan trực tiếp khác;trong đó, chi phí mua bao gồm: (i) giá mua, (ii) các loại thuế không được hoàn lại (ví dụ: thuế nhập khẩu), (iii) chi phí vận chuyển, bốc xếp, bảo quản trong quá trình mua hàng và các chi phí khác có liên quan trực tiếp đến việc mua hàng tồn kho.
Như vậy, có thể thấy rằng, để đưa được tài sản vào trạng thái sẵn sàng sử dụng, ngoài số tiền mua tài sản, doanh nghiệp còn phải bỏ ra rất nhiều khoản chi phí khác như: thuế, vận chuyển, bốc xếp, lắp đặt, chạy thử... Và căn cứ vào chế độ quản lý tài chính doanh nghiệp, những chi phí này nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của Nhà nước thì đều được tính vào nguyên giá (giá gốc) của tài sản.
Đối chiếu giữa quy định của Nhà nước về xác định nguyên giá tài sản và các căn cứ được sử dụng để định giá tài sản mà NHPT chấp nhận (bao gồm: (i) giá trị hợp đồng mua bán, (ii) giá thị trường hoặc (iii) giá trị còn lại theo sổ sách kế toán), có thể thấy rằng, việc xác định giá trị tài sản theo căn cứ (i) hoặc theo căn cứ (iii) về bản chất là giống nhau, bởi giá trị hợp đồng mua bán chính là một căn cứ để ghi nhận nguyên giá của tài sản, còn giá trị còn lại theo sổ sách kế toán cũng chính là nguyên giá của tài sản sau khi loại trừ phần giá trị đã trích khấu hao. Điểm khác nhau cơ bản nhấtgiữa việc sử dụng hai căn cứ này chỉ phụ thuộc vào việc tài sản đã được trích khấu hao hay chưa mà thôi.
Trở lại với các quy định của Bộ Tài chính về quản lý tài sản tại doanh nghiệp, có thể hình dung cách xác định nguyên giá của tài sản qua ví dụ sau đây:
Công ty A có trụ sở tại Hà Nội mua một thiết bị X tại Hải Phòng với giá cả được thoả thuận trong hợp đồng mua bán bao gồm giá mua 10.000 triệu đồng, chi phí vận chuyển 30 triệu đồng, công lắp đặt 50 triệu đồng, thuế giá trị gia tăng 10%. Ngoài ra, Công ty còn phải chi thêm các khoản khác để vận hành thử thiết bị này với tổng số tiền được chi là 100 triệu đồng.
Giả sử rằng thiết bị X được sử dụng để sản xuất hàng chịu thuế giá trị gia tăng và các khoản chi nói trên đều có hoá đơn, chứng từ đầy đủ và hợp lệ, thì Công ty A được hạch toán nguyên giá của thiết bị này là 10.180 triệu đồng (bao gồm giá mua, chi phí vận chuyển, chi phí lắp đặt, chi phí chạy thử; không bao gồm thuế giá trị gia tăng phải trả, vì Công ty sẽ được cơ quan Thuế hoàn lại khoản thuế này).
Sau khi thiết bị X được lắp đặt và sẵn sàng đưa vào sử dụng, Công ty A thế chấp thiết bị này tại Chi nhánh NHPT để vay vốn. Chi nhánh NHPT căn cứ vào giá trị hợp đồng mua bán và giá trị còn lại trên sổ kế toán, xác định giá trị thiết bị X là 10.180 triệu đồng do tài sản còn mới 100%, chưa được trích khấu hao.
Ở ví dụ nêu trên, có thể thấy rằng việc hạch toán nguyên giá tài sản của Công ty A là hoàn toàn phù hợp với chuẩn mực, chế độ kế toán và chế độ quản lý tài sản cố định do Bộ Tài chính ban hành; việc xác định nguyên giá tài sản của Chi nhánh NHPT cũng phù hợp với các căn cứ mà NHPT cho phép.
Tuy nhiên, thực tế thì ý nghĩa của việc xác định nguyên giá tài sản đối với doanh nghiệp và đối với ngân hàng là không hoàn toàn giống nhau. Do đó, nếu Chi nhánh NHPT chỉ đơn thuần tuân thủ theo các quy định này một cách rập khuôn thì chắc chắn tổn thất về vốn hoặc thu nhập cho NHPT sẽ xảy ra khi phải xử lý tài sản BĐTV.
Quay lại với tình huống của Công ty A được nêu trong ví dụ nói trên, có thể dễ dàng thấy rằng, trong trường hợp NHPT phải xử lý thiết bị X để thu hồi nợ thì một số chi phí cấu thành nguyên giá của thiết bị như chi phí lắp đặt, chi phí vận hành thử sẽ không thể thu hồi được (vì thiết bị sẽ phải được tháo dỡ ra để giao lại cho người mua); còn chi phí vận chuyển thì có thể thu hồi được hoặc không, tuỳ thuộc vào kết quả so sánh giữa chi phí vận chuyển từ Công ty A đến địa điểm của người mua với chi phí vận chuyển từ địa điểm của nhà cung cấp đến địa điểm của người mua (trong trường hợp người này không mua thiết bị X mà mua một thiết bị khác cùng loại từ một nhà cung cấp khác). Thậm chí kể cả trong trường hợp thiết bị X còn mới nguyên 100% tại thời điểm phát mãi và giá bán của loại thiết bị này trên thị trường không thay đổi so với thời điểm mà Công ty A mua thiết bị X, thì ngoài việc không thể thu hồi các chi phí đã kể ở trên, NHPT cũng chưachắc chắncó thể thu về đủ số tiền bằng với giá mua thiết bị (10.000 triệu đồng), bởi thông thường việc tháo dỡ tài sản cũng đòi hỏi phải có chi phí, và tất nhiên, khoản chi phí này sẽ được khấu trừ vào số tiền bán thiết bị X.
Và tình trạng nói trên cũng sẽ xảy ra đối với tất cả các tài sản BĐTV thuộc nhóm tài sản mà chúng tôi liệt kê ở phần đầu bài viết. Chính vì thế, tôi cho rằng, khi xác định giá trị bảo đảm của các tài sản thuộc nhóm này, ngoài việc căn cứ vào các chi phí hình thành nên nguyên giá của tài sản được ghi nhận trên sổ sách kế toán, còn phải xem xét đến khả năng thu hồi của các chi phí đó trong trường hợp phải xử lý tài sản BĐTV. Đây là một việc làm rất cần thiết, bởi xét cho cùng thì vai trò của tài sản thế chấp vẫn là đảm bảo khả năng thu hồi nợ và bảo toàn vốn của bên cho vay.
Từ tình huống thế chấp tài sản của Công ty A được nêu trong ví dụ nói trên, các Chi nhánh NHPT có thể nghiên cứu áp dụng để xác định giá trị thế chấp của các tài sản BĐTV tương tự. Theo đó, trong trường hợp sử dụng phương pháp định giá căn cứ vào giá trị sổ sách của tài sản, các Chi nhánh chỉ nên xác định giá trị BĐTV của tài sản tối đa bằng tổng giá trị của các chi phí có thể thu hồi được khi phát mãi tài sản, mà trong đó chủ yếu là giá mua và các khoản thuế không được hoàn lại. Còn đối với các chi phí cấu thành nguyên giá (giá gốc) của tài sản BĐTV nhưng không đảm bảo khả năng thu hồi khi phát mãi tài sản (như: chi phí vận chuyển, chi phí bốc dỡ, chi phí thuê kho bãi, chi phí lắp đặt, chi phí chạy thử...), Chi nhánh nên loại ra khi xác định giá trị bảo đảm của tài sản./.
Tài liệu tham khảo:
Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành và công bố bốn (04) chuẩn mực kế toán Việt Nam (đợt I);
Thông tư số 161/2007/TT-BTC ngày 31/12/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện mười sáu (16) chuẩn mực kế toán ban hành theo Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001, Quyết định số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31/12/2002 và Quyết định số 234/2003/QĐ-BTC ngày 30/12/2003 của Bộ trưởng Bộ Tài chính;
Thông tư số 45/2013/TT-BTC ngày 25/4/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định.

Tìm theo ngày :