07/01/2015 00:00
Xem với cỡ chữ

Xác định vốn tự có và vốn vay NHTM khi thẩm định giới hạn tín dụng xuất khẩu

TS. Nguyễn Cảnh Hiệp (bài đăng trên Tạp chí HTPT số 97)

Giới hạn tín dụng (GHTD) là mức dư nợ vay tối đa mà một khách hàng được duy trì trong một thời gian nhất định, thông thường là một năm. Đối với nghiệp vụ tín dụng xuất khẩu (TDXK) của Ngân hàng Phát triển Việt Nam (NHPT), quy định về GHTD mới bắt đầu được áp dụng đối với mọi khách hàng vay vốn từ tháng 4/2011 sau khi ban hành Công văn số 1162/NHPT-TDXK ngày 09/4/2011.
Trước đó, GHTD chỉ được áp dụng đối với khách hàng vay vốn theo phương thức hạn mức tín dụng (HMTD), còn các khách hàng vay vốn theo phương thức từng lần hầu như không bị ràng buộc bởi GHTD. Điều này vô hình trung đã dẫn tới trường hợp nhiều doanh nghiệp vay vốn theo phương thức từng lần lại được vay nhiều vốn hơn các doanh nghiệp vay vốn theo phương thức HMTD. Đây là một nghịch lý, bởi lẽ căn cứ theo quy định của NHPT thì các khách hàng vay vốn theo phương thức HMTD phải là những khách hàng có năng lực và uy tín hơn hẳn so với những khách hàng vay vốn theo phương thức từng lần.
Sự ra đời của Công văn số 1162/NHPT-TDXK ngày 09/4/2011 kèm theo quy định về GHTD đã đặt một dấu chấm hết cho tình trạng bất hợp lý nói trên. Tiếp theo Công văn này, NHPT đã ban hành Công văn số 2440/NHPT-TDXK ngày 16/7/2012 hướng dẫn bổ sung một số nội dung liên quan đến việc xây dựng và thẩm định GHTD. Tuy nhiên, quá trình áp dụng quy định về GHTD thời gian qua cho thấy vẫn còn một số vấn đề cần tiếp tục trao đổi để làm rõ thêm, trong đó đặc biệt là việc xác định các nguồn vốn, bao gồm cả vốn tự có, vốn vay ngân hàng thương mại (NHTM)(1) và các nguồn vốn khác tham gia vào phương án sản xuất kinh doanh (SXKD) của khách hàng khi tính toán GHTD.
Theo quy định của NHPT tại Công văn số 2440/NHPT-TDXK ngày 16/7/2012, GHTD của một doanh nghiệp vay vốn TDXK được xác định theo công thức:

Công thức trên hàm ý rằng GHTD của NHPT dành cho một doanh nghiệp chính là phần vốn mà NHPT cho doanh nghiệp vay để đáp ứng nhu cầu trang trải các khoản chi(2) cho một chu kỳ SXKD hàng xuất khẩu sau khi loại trừ các nguồn vốn khác mà doanh nghiệp có thể sử dụng để tham gia vào phương án SXKD đó. Thông thường, GHTD được duy trì trong thời hạn một năm và trong khoảng thời gian đó, doanh nghiệp thực hiện nhiều chu kỳ SXKD, do đó các nguồn vốn được quay vòng nhiều lần (tương ứng với “vòng quay vốn lưu động”). Tổng số vốn được sử dụng trong các chu kỳ đó bằng chênh lệch giữa tổng chi phí SXKD sau khi loại trừ chi phí khấu hao tài sản cố định(3), còn tổng số vốn NHPT cho vay trong các chu kỳ đó chính bằng tích số giữa GHTD và vòng quay vốn lưu động(4).
Khi xác định các nguồn vốn tham gia vào phương án SXKD thì vốn tự có và vốn vay NHTM thường được quan tâm nhiều nhất. Còn lại các nguồn vốn khác (nếu có) ít được quan tâm hơn bởi chúng thường chiếm tỷ trọng nhỏ và không ổn định. Đó chủ yếu là các khoản ứng trước của nhà nhập khẩu dành cho doanh nghiệp và việc xác định giá trị của chúng cũng khá dễ dàng, căn cứ vào thoả thuận về thanh toán giữa doanh nghiệp và nhà nhập khẩu thể hiện trên hợp đồng xuất khẩu. Ngoài ra, trong các nguồn vốn khác còn có thể có những khoản nợ mà doanh nghiệp tạm thời chiếm dụng được (ví dụ: các khoản nợ thuế, nợ lương, nợ bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế, nợ các nhà cung cấp...). Tuy nhiên, các khoản vốn chiếm dụng này cũng thường không ổn định và có thời hạn ngắn, vì vậy việc sử dụng các nguồn vốn này ít được các doanh nghiệp tính tới khi xây dựng kế hoạch tài chính. Trong bài viết này, chúng tôi chỉ tập trung vào vấn đề xác định nguồn vốn tự có và vốn vay NHTM tham gia phương án SXKD.
Theo quy định của NHPT, vốn tự có được xác định theo các chỉ tiêu tại báo cáo tài chính năm liền trước năm duyệt vay. Qua nghiên cứu báo cáo thẩm định GHTD đối với một số doanh nghiệp, chúng tôi nhận thấy trong đa phần các trường hợp, vốn tự có thường được cán bộ tín dụng xác định bằng vốn điều lệ (ghi trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh) hoặc bằng vốn chủ sở hữu (thể hiện ở mục 400 hoặc mục 410 trên Bảng cân đối kế toán). Một số trường hợp khác xác định số vốn tự có tham gia bằng chính số vốn mà doanh nghiệp dự kiến trong phương án SXKD đề nghị vay vốn.
Tuy nhiên, phần đông các trường hợp nói trên đều dẫn tới kết quả xác định vốn tự có tham gia phương án thiếu chính xác. Bởi lẽ, vốn chủ sở hữu thể hiện trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc trên Bảng cân đối kế toán là toàn bộ số vốn mà chủ doanh nghiệp đã đầu tư vào doanh nghiệp hoặc hiện đang nắm giữ tại doanh nghiệp. Vốn chủ sở hữu có thể tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau (tiền, tài sản cố định, nguyên liệu vật liệu, các khoản phải thu...) nhưng không phải bao giờ doanh nghiệp cũng có thể sử dụng toàn bộ số vốn này để tham gia vào phương án SXKD. Về nguyên tắc, doanh nghiệp phải sử dụng tối đa các nguồn vốn dài hạn (trong đó bao gồm cả vốn chủ sở hữu) để đầu tư vào các tài sản dài hạn, phần còn lại (nếu có) mới được sử dụng làm vốn lưu động để tham gia vào các phương án SXKD. Do đó, về bản chất, lượng vốn chủ sở hữu tham gia vào phương án SXKD phải là vốn lưu động thường xuyên của doanh nghiệp. Vì vậy, việc tính toán nguồn vốn tự có tham gia vào phương án SXKD hàng xuất khẩu phải được thực hiện như cách xác định vốn lưu động thường xuyên (hoặc vốn tự có khả dụng) của doanh nghiệp, theo công thức sau:

Trong nhiều trường hợp, việc tính toán theo công thức (2) cho ra kết quả âm, tức là VLĐTX < 0. Điều này có nghĩa rằng, doanh nghiệp đã phải huy động cả các nguồn vốn ngắn hạn để đầu tư vào tài sản dài hạn và không còn vốn chủ sở hữu để làm vốn lưu động thường xuyên. Trong trường hợp đó, vốn tự có tham gia phương án SXKD phải được xác định bằng không.
Ví dụ: Công ty A có giá trị tài sản dài hạn là 40.000 triệu đồng, nguồn vốn chủ sở hữu là 10.000 triệu đồng, nguồn vốn vay và nợ dài hạn là 18.000 tỷ đồng. Theo công thức (2), ta tính được vốn lưu động thường xuyên của Công ty là: VLĐTX = (10.000 + 18.000) - 40.000 = -12.000 triệu đồng. Như vậy, khi tính toán GHTD, phần vốn tự có của Công ty có thể tham gia vào phương án chỉ được tính là 0 đồng.
Đối với nguồn vốn vay NHTM, theo hướng dẫn của NHPT, cán bộ tín dụng có thể xác định bằng phần HMTD mà NHTM cam kết dành cho doanh nghiệp trong năm kế hoạch hoặc căn cứ mức dư nợ dự kiến của doanh nghiệp tại các NHTM hoặc mức dư nợ thường xuyên của doanh nghiệp tại các NHTM trong 2 năm gần nhất. Trên thực tế, các cán bộ tín dụng thường xác định đúng số vốn mà các NHTM cho doanh nghiệp vay (thông qua việc xem xét các hợp đồng tín dụng hoặc thông báo cho vay của các NHTM, hoặc số liệu ở mục 311 - “Vay và nợ ngắn hạn” trên Bảng cân đối kế toán, hoặc thông tin khai thác trên Bảng kê danh mục các tổ chức tín dụng mà doanh nghiệp có quan hệ tín dụng hoặc từ Trung tâm Thông tin tín dụng của Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, việc xác định số vốn vay NHTM tham gia vào phương án SXKD chưa thật sự chính xác do cán bộ tín dụng chưa loại trừ phần nguồn vốn ngắn hạn đã được sử dụng để đầu tư dài hạn, hoặc chưa tính đến tỷ trọng doanh thu xuất khẩu trong tổng doanh thu bán hàng của doanh nghiệp ở kỳ kế hoạch.
Chúng ta hãy xem xét tiếp trường hợp của Công ty A ở trong ví dụ được đưa ra ở phần trên. Giả sử Công ty hiện đang có dư nợ vay ngắn hạn tại các NHTM là 50.000 triệu đồng và dự kiến kế hoạch doanh thu năm kế hoạch là 150.000 triệu đồng, trong đó doanh thu từ mặt hàng xuất khẩu vay vốn NHPT chiếm tỷ lệ 80%.
Do vốn lưu động thường xuyên của Công ty là số âm nên Công ty không còn vốn tự có tham gia vào các phương án SXKD. Vì vậy, khi tính toán GHTD, cán bộ tín dụng phải xác định số vốn tự có tham gia vào phương án bằng 0 đồng. Ngoài ra, kết quả tính toán vốn lưu động thường xuyên bằng -12.000 triệu đồng còn cho thấy Công ty đã sử dụng 12.000 triệu đồng từ nguồn vốn vay ngắn hạn để đầu tư vào các tài sản dài hạn(5). Do đó, phần vốn vay ngắn hạn NHTM có thể tham gia vào các phương án SXKD chỉ còn lại là: 50.000 – 12.000 = 38.000 triệu đồng.
Về nguyên tắc, nếu doanh nghiệp không có kế hoạch sử dụng nguồn vốn vay NHTM cho một hoạt động đầu tư hay kinh doanh nào khác thì cán bộ tín dụng có thể lấy toàn bộ 38.000 triệu đồng này tham gia phương án SXKD hàng xuất khẩu. Tuy nhiên, trong trường hợp nói trên thì Công ty A dự kiến doanh thu từ mặt hàng xuất khẩu vay vốn NHPT chỉ chiếm 80% trong tổng doanh thu kỳ kế hoạch, vì vậy, theo quan điểm của chúng tôi, số vốn vay NHTM tham gia vào phương án SXKD hàng xuất khẩu tối đa chỉ nên lấy là: 80% × 38.000 = 30.400 triệu đồng; phần vốn vay NHTM còn lại được sử dụng cho việc thực hiện các phương án SXKD khác. Tương tự, việc xác định số vốn tự có tham gia vào phương án SXKD hàng xuất khẩu (nếu vốn lưu động thường xuyên là một số dương) cũng nên tính theo tỷ lệ doanh thu xuất khẩu.
Còn trong trường hợp cán bộ tín dụng xác định tỷ trọng vốn vay NHTM cao hơn hoặc thấp hơn tỷ trọng doanh thu xuất khẩu thì số vốn tự có tham gia vào phương án cũng phải được tính toán điều chỉnh giảm xuống hoặc tăng lên tương ứng. Mục đích của việc làm này một mặt là tạo điều kiện để doanh nghiệp có thể bố trí đủ vốn cho mọi phương án SXKD theo kế hoạch của doanh nghiệp, mặt khác là để đảm bảo cả nguồn vốn tự có và nguồn vốn vay NHTM đều được huy động tối đa vào phục vụ hoạt động SXKD, tránh để xảy ra tình trạng vốn bị nhàn rỗi, dễ dẫn tới việc sử dụng vốn vào các hoạt động đầu tư chứa đựng nhiều rủi ro.
Một vấn đề cần lưu ý nữa là việc theo dõi và kiểm soát dư nợ vay ngắn hạn của doanh nghiệp tại các NHTM trong quá trình cho vay vốn TDXK. Mặc dù việc tính toán theo các nội dung trình bày ở trên nhìn chung đã cho ra một GHTD tương đối chính xác (về mặt số học), song trên thực tế thì GHTD này không phải bao giờ cũng là một cái ngưỡng an toàn cho nguồn vốn TDXK của NHPT, bởi trong quá trình thực hiện kế hoạch SXKD, nhiều khi doanh nghiệp có sự thay đổi về kế hoạch sử dụng vốn, nhất là nguồn vốn vay ngắn hạn của các NHTM. Sự thay đổi này có thể diễn ra theo chiều hướng (a) doanh nghiệp giảm bớt số vốn vay ngắn hạn tại NHTM so với dự kiến (tức là không sử dụng hết HMTD được cấp từ các NHTM) hoặc (b) doanh nghiệp mở rộng việc vay vốn ngắn hạn từ các NHTM (tức là doanh nghiệp được các NHTM cấp thêm HMTD).
Trong trường hợp (a) thì vấn đề sẽ không có gì cần phải bàn thêm, bởi tổng số vốn được sử dụng (bao gồm cả vốn vay NHTM và vốn TDXK) vẫn không vượt quá nhu cầu chi tiêu phục vụ SXKD của doanh nghiệp mà cán bộ tín dụng đã thẩm định. Song trong trường hợp (b) thì tình huống sẽ trở nên phức tạp hơn rất nhiều nếu dư nợ TDXK của doanh nghiệp không được điều chỉnh kịp thời. Sự phức tạp của tình huống này bắt nguồn từ khả năng số vốn vay thêm từ các NHTM có thể không được sử dụng để phục vụ phương án SXKD mà lại sử dụng vào các phương án đầu tư dài hạn(6). Theo lẽ thông thường, việc sử dụng vốn vay ngắn hạn để đầu tư dài hạn bao giờ cũng dẫn đến những rủi ro về thanh khoản, và một khi khách hàng gặp rủi ro thanh khoản, dù là với bất kỳ nguồn vốn nào, thì nguy cơ rủi ro tín dụng đối với vốn vay của NHPT chắc chắn sẽ xảy ra. Chính vì vậy, trong quá trình cho vay, cán bộ tín dụng phải thường xuyên theo dõi biến động dư nợ của doanh nghiệp tại các NHTM để có biện pháp kiểm soát an toàn đối với số vốn vay TDXK. Trong trường hợp doanh nghiệp tăng dư nợ vay tại các NHTM so với dự kiến ban đầu thì cán bộ tín dụng phải kịp thời điều chỉnh giảm số vốn vay TDXK hoặc yêu cầu doanh nghiệp lập phương án SXKD mới để thẩm định lại GHTD theo quy định của NHPT./.


Chú thích
(1). Nguồn vốn vay được đề cập trong hướng dẫn của NHPT là vốn vay từ các NHTM và các tổ chức tín dụng khác (ngoài NHPT). Để thuận tiện cho việc theo dõi của bạn đọc, trong bài viết này, chúng tôi dùng cụm từ “vốn vay NHTM” để chỉ chung cho các nguồn vốn vay từ các tổ chức tín dụng khác.
(2). Ở đây cần phân biệt rạch ròi giữa khái niệm “chi” và “chi phí”, bởi có những khoản mục được coi là “chi phí” nhưng trên thực tế thì doanh nghiệp không phải “chi” ra trong kỳ, chẳng hạn như chi phí khấu hao tài sản cố định. Về thực chất, khấu hao tài sản cố định là một loại chi phí phân bổ mà doanh nghiệp được trích để tính vào chi phí SXKD trong kỳ, nhưng doanh nghiệp không phải bỏ tiền ra để chi trả cho khoản mục chi phí này, bởi toàn bộ số tiền phải chi cho việc sử dụng tài sản cố định đã được bỏ ra trong quá trình đầu tư tài sản.
(3). Công thức (1) có thể biến đổi thành: (VNHPT + VTC + VNHTM + VK) × VQVLĐ = CFSXKD – KHTSCĐ. Có nghĩa rằng toàn bộ số vốn từ tất cả các nguồn tham gia vào một chu kỳ SXKD sau khi được quay vòng với số lần bằng VQVLĐ thì đáp ứng đủ nhu cầu trang trải các khoản chi phục vụ SXKD của doanh nghiệp trong một năm (không bao gồm chi phí khấu hao tài sản cố định). Ở đây chúng tôi giả định rằng các chi phí của phương án đã được tính toán một cách hợp lý và chính xác. Các vấn đề liên quan đến việc thẩm định chi phí của phương án SXKD sẽ được đề cập trong một bài viết khác.
(4). Diễn đạt theo ngôn ngữ toán học, nếu GHTD mà NHPT xác định là VNHPT, còn vòng quay vốn lưu động của doanh nghiệp là VQVLĐ thì tổng số vốn TDXK được giải ngân tối đa cho doanh nghiệp trong năm kế hoạch là VNHPT × VQVLĐ.
(5). Giải thích theo ngôn ngữ toán học, từ công thức (2) ta có phép biến đổi bất đẳng thức: VLĐTX < 0 ⇔ (VCSH + VVDH) – TSDH < 0 ⇔ (VCSH + VVDH) < TSDH. Điều này có nghĩa rằng tổng giá trị các nguồn vốn dài hạn nhỏ hơn giá trị của tài sản dài hạn, hay nói cách khác là một phần giá trị tài sản dài hạn đã được hình thành bởi các nguồn vốn ngắn hạn.
(6). Về lý thuyết, toàn bộ nhu cầu vốn của phương án SXKD đã được xác định tại thời điểm thẩm định GHTD, và nhu cầu này đã được đáp ứng đủ bằng các nguồn vốn mà NHPT tính toán ban đầu. Trong trường hợp các chi phí của phương án không có biến động theo chiều hướng tăng mà khách hàng vẫn tiếp tục vay thêm vốn ngắn hạn từ các NHTM thì số vốn được vay thêm này sẽ được sử dụng vào một mục đích nào đó nằm ngoài hoạt động SXKD, chẳng hạn, đầu tư thêm vào tài sản dài hạn hoặc đáo hạn các khoản vay ngắn hạn đã được sử dụng để đầu tư dài hạn.

Tìm theo ngày :